Thứ Sáu, 25 tháng 6, 2010

TƯ LIỆU & Ý NGHĨA HƯƠNG ƯỚC
CÁC LÀNG, XÃ Ở PHÚC YÊN THỜI KỲ TRƯỚC NĂM 1945

Nguyễn Anh Ngọc

Nhận thức trước các giá trị văn hoá (vật thể, phi vật thể) phục vụ công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế, xã hội địa phương. Những năm gần đây, Thư viện tỉnh đã chú trọng đến công tác nghiên cứu, bổ sung và sưu tầm tư liệu địa chí đề cập về lịch sử, vùng đất, văn hoá, con người Vĩnh Phúc xưa và nay.
Hiện nguồn thông tin tư liệu địa chí Thư viện có trên 12.000 bản; trong đó có các nguồn tài liệu phong phú như: Bản đồ, sơ đồ, Thần tích, Sắc thần, bản in Văn bia chữ Hán Nôm,....Và hơn 300 bản Hương ước các làng, xã thuộc 9 huyện, thị trên địa bàn tỉnh.
Trong số những bản Hương ước trên, có tới 12 bản Hương ước của 09 làng thuộc Phúc Yên thời kỳ trước Cách mạng tháng Tám (năm 1945).
Qua khảo cứu danh mục, người viết thực hiện sắp xếp Hương ước ở Phúc Yên theo năm biên soạn; đồng thời chắt lọc, vạch ý nội dung chính đề cập trong quy ước, kết hợp với trích dẫn tư liệu gốc làm minh hoạ giới thiệu nhằm giúp bạn đọc dễ tiếp cận, khái quát tổng quan về một tổ chức xã hội làng, cùng tập quán, nề nếp sinh hoạt, văn hoá, tín ngưỡng,...Hay nói đúng hơn là giúp chúng ta đề cập về một hệ thống văn bản quy phạm ở 09 làng, xã:
1. Khả Do (1921).
2. Hiển Lễ (1932, 1933).
3. Thịnh Kỷ (1933).
4. Đức Cung (1934, 1942).
5. Tháp Miếu (1937).
6. Yên Mỹ (1937, 1942).
7. Tiền Châu (1942).
8. Cao Quang (1942)
9. Xuân Hoà (1942)
Từ những nội dung đề cập trong 12 bản Hương ước của 9 làng, xã trên. Nét chính cũng giống như Hương ước ở các làng, xã vùng đồng bằng Bắc Bộ và địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc; Hương ước ở các làng, xã thuộc Phúc Yên thời kỳ trước cách mạng tháng Tám là những bản ghi chép các điều lệ quy định đến tổ chức xã hội, mối quan hệ giữa các thành viên với nhau, giữa thành viên với cộng đồng; và giữa các cộng đồng nhỏ trong làng (phe, giáp, họ,...) với làng. Tuy trong mỗi nội dung Hương ước của các làng, xã có đôi chỗ khác nhau; nhưng tựu chung các nội dung này tập trung chính ở một số điểm; đó là:
-Quy ước về tổ chức xã hội và trách nhiệm của các chức dịch trong làng, xã.
-Quy ước về đón mừng năm mới và tiết xuân thu.
-Quy ước về tế lễ thờ thần thành hoàng làng.
-Quy ước về chế độ ruộng đất, thuế, khoán, đăng lính.
-Quy ước về khuyến nông, thuỷ lợi.
-Quy ước về bảo vệ sản xuất, chăn nuôi.
-Quy ước về bảo vệ môi trường.
-Quy ước về việc hiếu, hỷ.
-Quy ước tuổi lên lão (từ 50 tuổi), đăng thượng thọ (từ 70 tuổi trở lên) và quy định mức quà tặng người lên thọ.
-Quy ước về động thổ, người nhập cư, táng ký.
-Qui ước về khuyến khích học tập và hỗ trợ học tập.
-Quy ước về khen thưởng người học hành chăm chỉ, thi cử đỗ đạt.
-Quy ước cứu người bị trộm, cướp. Và lệ phạt kẻ ăn trộm hoặc chứa chấp kẻ gian, đồ lấy trộm.
-Quy ước về phòng và cứu hoả hoạn của dân làng...v.v..
Ở từng nội dung của bản Hương ước là những Chương, Điều quy định chi tiết, chặt chẽ các mối quan hệ: cá nhân-cộng động-tổ chức xã hội. Qua đó có thể xem Hương ước (quy ước) là một hệ thống văn bản dưới luật nhưng tồn tại song song với luật pháp của Nhà nước xưa mà không đối lập; hai hệ thống văn bản cùng tồn tại, hỗ trợ nhau trong quản lý, tổ chức xã hội. Điều đó cho thấy nội dung trong Hương ước khá chi tiết, cụ thể với từng hoàn cảnh, điều kiện, tập quán, sinh hoạt, trình độ dân trí của dân làng.
Ví như ở thời gian này việc giữ gìn vệ sinh môi trường, giếng nước của làng cũng được quy định chi tiết “...mỗi năm cứ tuần tháng giêng phải dọn bùn đắp bờ 1 lần, giếng ở ngõ nào thời ngõ ấy phải dọn cho sạch, nếu không dợn thời bản xã sẽ thuê người làm phí tổn bao nhiêu ngõ ấy phải chịu. Nếu bắt được người nào vứt những vật ô uế vào giếng sẽ bị xã phạt ngân 5 hào xung công và bắt người ấy dọn lại” (Hương ước làng Cao Quang).
Việc quy định tổ chức xã hội, cá nhân trong bảo vệ, tôn tạo đường giao thông cũng được quy định tại điều 3, Chương 8 Hương ước làng Cao Quang “...Mỗi năm cứ ngày mồng 4, mồng 5 tháng giêng; nam bản xã mỗi nhà một người đi sửa đắp lại đường công tư, công trong xã, nếu nhà vắng, bản xã phạt mỗi nhà 1 hào xung công. Còn những chức dịch phải đi kiểm tra mốc giới, cõi của làng xã”.
Công tác thuỷ lợi phục vụ canh tác nông nghiệp được Hương ước làng Khả Do nêu “Thường năm làng tu bổ các đường khuyến nông và khoi sau các ngòi, lạch chứa nước tưới tiêu ruộng đồng. Mỗi năm cứ tháng 11 hay 12, Hội đồng cho rao mõ thì các chủ ruộng gần ngòi phải khoi đoạn ngòi ấy, cấm không được vứt cỏ bờ ruộng, phạt bờ mà không đắp lại để bờ lở dần đi; ai vi phạm Hương hội phạt 10 hào”
Bảo vệ sản xuất, canh tác của dân làng được Hương ước làng Khả Do ghi “Lúa mạ, hoa màu ngoài đồng tuần phiên phải canh giữ cho cẩn thận mất đâu tuần phải chịu nguyên giá mà đền”.
An ninh, trật tự xã hội thời gian này được quy định khá cụ thể và những biện pháp chế tài đối với mọi người dân trong làng “Nghiêm cấm cờ, bạc, rượu, thuốc phiện lậu và trộm cướp. Những kẻ trộm cướp, dính líu, tiêu thụ đồ gian thì lý dịch bắt giải quan trên trị tội. Lỗi nhẹ vị phạm khoản ước như trộm bắp ngô, củ khoai thì phải phạt 1 hào, nếu thủ phạm là đàn ông thì còn bị cấm không được dự đình trong vòng 1 năm” (Hương ước làng Xuân Hoà).
Tín ngưỡng thờ thần linh của dân làng Hiển Lễ được qui định riêng tại điều 15 “...hàng năm cứ ngày 30 tháng giêng là ngày giỗ đức Thánh sư daỵ nghề làm nồi; 4 ngõ tuỳ tâm lớn nhỏ làm lễ cúng, lễ xong mang về thừa huệ...”. Điều này thể hiện rõ lòng sùng kính 3 vị Tổ nghề (Hà Tân, La Lang Lương Thị, Đức Thánh Trường Sinh) đã có công dạy dân làng biết chuốt nặn nồi đất. Xưa kia sản phẩm nồi Hiển Lễ nổi tiếng trong vùng, nhưng trải qua thời gian, nay nghề này đã mai một.
Chính sách quan tâm tới người cao tuổi được thể hiện khá rõ trong Hương ước làng Xuân Hoà, điều 71 về tổ chức lên thọ và mừng thọ “Hạ thọ 50 tuổi, trung thọ 60 tuổi dân làng mừng 1 câu đối (đáng giá 3 đồng) và 1 bánh pháo; còn trường thọ từ 70 tuổi đến 80 tuổi, dân làng mừng 1 câu đối, bánh pháo và kèm 1 gậy trúc, mũ ni (đáng giá 3 đồng). Từ 90 tuổi, dân làng kính tặng mũ ni, gậy trúc và tặng thêm 1 bức hoành phi thiếp vàng 3 chữ Đắc Kỳ Thọ và đề ghi lạc khoản đồng dân làng Trang Hạ, nếu muốn mời dân giúp việc tế thọ cũng được”.
Giáo dục và Khuyến khích con em trong làng đi học cũng được coi trong bằng một điều khoản 13 “Trẻ con lên 8 tuổi trở lên phải đi học, ai có con đi học mà nhà nghèo thì dân cấp đỡ tiền học đến 18 tuổi; nếu còn theo học thì dân trừ phúc tráng và không phải làm tuần phiên”. (Hương ước làng Hiển Lễ-1932).
Bên cạnh việc khuyến học, quy chế khen thưởng trong thi cử đỗ đạt cũng được làng Cao Quang quy định tại điều 12 “Người học trò nào trong xã mà thi được bằng sơ học hoặc tuyển sinh khoá sinh hoặc trung khảo trở lên thì bản xã miễn trừ cho các hạng lao dịch”; hay “người trong xã thi đỗ tam trường về dân yết kiến thần, thì dân làng làm lễ mừng người ấy 2 đồng bạc; đỗ tú tài dân mừng 5 đồng bạc; đỗ cử nhân dân mừng 10 đồng bạc; đỗ thủ khoa dân mừng 15 đồng bạc; đỗ phó bảng, tiến sỹ dân mừng 30 đồng bạc. Tiền mừng lấy của công dân hay bổ về thủ gia”.
Điều đặc biệt hơn trong các bản Hương ước, lại nằm ở điều 44 Hương ước làng Xuân Hoà đã đề cập đến vấn đề nâng cao dân trí, văn hoá cho dân làng bằng việc“...mở Thư viện, mua đủ các loại sách và báo chí cho mọi người trong dân ai cũng được vào đọc xem”. Qua nội dung này, có thể thấy Hội đồng biên soạn Hương ước làng Xuân Hoà đã có cái nhìn đầy sự tiến bộ về nâng cao đời sống văn hoá tinh thần, dân trí cho người dân thông qua văn hoá đọc.
Những điều, khoản trong Hương ước không những cho phép, khuyến khích, chế tài đối với hoạt động của người dân; mà còn quy định rõ cả quyền hạn, trách nhiệm của người đứng đầu (lý trưởng) và các thành viên (chức dịch) trong xã “Những việc cai trị trong xã thuộc ở những Hương chức đương thứ có quyền trong cai trị mọi việc làng xã, cứ theo Nghị định Nhà nước mà phải có trách nhiệm thi hành, nếu người Hương chức nào làm không hết bổn phận thì phải chịu trách nhiệm và phí tổn chứ làng, xã không chịu liên can đến”. (chương 1, Hương ước làng Cao Quang)...v.v..
Như vậy trong xã hội thời xưa, Hương ước có vai trò ổn định trật tự, nếp sống trong làng, sức mạnh của nó một phần dựa vào hình phạt, một phần dựa vào khen thưởng. Song ở một phương diện khác, Hương ước các làng, xã ở Phúc Yên còn phản ánh tâm lý, văn hoá của dân làng về điều hay, lẽ phải, điều dở, điều trái, cái đúng, cái sai; nội dung quy ước vừa uốn người ta vào khuôn phép, vừa động viên người ta hành động, gắn kết dân làng thành một cộng đồng chặt chẽ; đồng thời điều tiết trách nhiệm, quyền lợi của các thành viên trong làng. Do đó Hương ước có ý nghĩa như một hệ thống văn bản quy phạm (văn bản dưới luật) có tác dụng bổ sung cho luật pháp Nhà nước khi cần xử lý những vấn đề cụ thể nảy sinh từ nếp sinh hoạt đặc thù của dân làng.
Tuy nhiên, bên cạnh những yếu tố tích cực trong Hương ước (ổn định xã hội, nề nếp trong làng, khuyến khích, khen thưởng những việc nên làm và cấm những việc không nên làm đối với những thành viên trong cộng đồng làng) còn tồn tại không ít vấn đề tiêu cực tác động không nhỏ đến đời sống của dân làng và xã hội (như lợi dụng Hương ước để lý trưởng, cường hào áp bức, nhũng nhiễu, kìm hãm sự phát triển của con người-xã hội).
Tiếp thu những yếu tố tích cực của Hương ước xưa để xây dựng Hương ước-quy ước mới ở các làng, xã ngày nay là việc làm cần thiết nhằm góp phần xây dựng và nâng cao đời sống văn hoá ở các thôn làng./.
N.A.N









Thứ Tư, 14 tháng 10, 2009


CHÙA HOA DƯƠNG
NÉT XƯA CÒN MÃI VỚI THỜI GIAN

Nguyễn Anh Ngọc

Chùa Hoa Dương xưa còn có tên khác là Tuân Lộ tự thuộc tổng Tuân Lộ, phủ Vĩnh Tường nay thuộc thôn Thượng xã Tuân Chính huyện Vĩnh Tường tỉnh Vĩnh Phúc.
Hoa Dương là công trình kiến trúc Phật giáo cổ bậc nhất ở Vĩnh Phúc có niên đại xây dựng từ thời Hậu Lê (năm 1680) hiện còn lại đến ngày nay. Về tổng quan kiến trúc chùa mang kiểu thức chữ “công” gồm 3 tòa: Tiền đường (7 gian), thượng điện (4 gian) nhà Tổ (5 gian) và 2 nhà hành lang (20 gian) tạo nên không gian kiến trúc liên hoàn đồ sộ với tổng diện tích mặt bằng 358m2. Khi xây dựng chùa, nhà kiến trúc xưa đã chọn kiểu kết cấu “chồng rường, giá chiêng” vừa thẩm mỹ, khỏe khoắn bằng hệ thống cột chịu lực gỗ lim tròn 1,5m, đặt trên đế đá vuông 75cm; sự lựa chọn vật liệu xây dựng chính từ gỗ lim, đá xanh, gốm (gạch, ngói),...nên trải qua hơn 300 năm, dưới sự tác động khắc nghiệt của thiên nhiên, khí hậu mà nay ngôi chùa vẫn còn nguyên vẹn giá trị gốc. Hiện trước sân nhà Tiền đường còn nhiều cây cổ thụ quý như bồ đề, đại, ngâu có tuổi đời hàng trăm năm với rêu phong cổ kính, trầm lắng nơi cửa Phật.
Cùng với giá trị kiến trúc, lịch sử; chùa Hoa Dương còn nổi bật ở mảng nghệ thuật điêu khắc gỗ dân gian đặc sắc qua 26 tác phẩm tượng tròn và 16 phù điêu chạm chổ hết sức tinh tế, sinh động lấp lánh sơn son thếp vàng. Qua hệ thống tượng trên Phật điện cho thấy, hiện chùa Hoa Dương vẫn còn giữ nguyên phong cách bài trí tượng theo phái Đại Thừa xưa ở đồng bằng Bắc bộ. Thứ tự các lớp từ trên xuống dưới, từ trái sang phải gồm: Tam thế (A-Di-Đà, Thích Ca, Di Lặc Phật), Di Đà Tam Tôn (A-Di-Đà, Quan Thế Âm Bồ Tát), Hoa Nghiêm Tam Thánh (Thích Ca Mâu Ni, Văn Thù, Phổ Hiền) Thích Ca Cửu Long (Thích Ca sơ sinh, Đế Thiên, Đế Thích) và các tượng phối thờ như tứ Bồ Tát, tứ Thiên Vương, Đức Ông, Thánh Hiền, Hộ pháp, tượng Tổ,...Tất cả các pho tượng đều có niên đại từ thời Hậu Lê (tk XVII), được chế tác từ gỗ mít già bằng kỹ năng chạm khắc điêu luyện, tinh tế kết hợp với kỹ thuật sơn thếp truyền thống đã làm cho những tác phẩm tượng tròn giàu tính nghệ thuật, từ bi hỉ xả như hàm ý lời mong cầu vươn tới chân, thiện, mỹ trong đời sống của người Việt xưa.
Bên cạnh các tác phẩm tượng tròn, trong chùa hiện còn lưu giữ 16 bức điêu khắc gỗ tiêu biểu được bài trí trong nhà tiền đường và thượng điện. 8 bức Y môn (3,0m x 0,6m) chạm nổi đại tự Hán, nội dung mang ý nghĩa răn dạy, tụng ca Phật pháp cùng triết thuyết Nho học; nền các bức Y môn được chạm nổi đề tài hoa cỏ, muông thú, vân mây,...tinh tế, sinh động, lấp lánh huyền ảo trên sắc son, thếp vàng. 8 bức tranh kệ khắc thư họa với nội dung thi ca tuyệt tác miêu tả phong cảnh thiên nhiên kỳ thú, sự hoằng dương Phật pháp tới tăng ni, phật tử và du khách lên chùa lễ Phật. Ngoài ra trong chùa hiện còn lưu giữ 8 bộ hoành phi, câu đối cổ và nhiều di vật quý như chuông đồng, cây hương, bia đá là những tư liệu văn tự quý cho muôn đời.
Với vẻ đẹp nghệ thuật, kiến trúc đặc sắc thời Hậu Lê (tk XVII), chùa Hoa Dương đã được Nhà nước xếp hạng di tích quốc gia, một di sản văn hóa quý giá của tỉnh Vĩnh Phúc như nét duyên xưa còn đọng lại với thời gian.

Nguyễn Anh Ngọc

Thứ Năm, 3 tháng 9, 2009


Chùa Động Lâm

còn được gọi là chùa Hạ nay thuộc xã Hợp Thịnh, huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc. Cách Hà Nội 65 km và cách thị xã Vĩnh Yên (tỉnh lỵ Vĩnh Phúc) 4km về phía Tây Bắc theo đường Quốc lộ số 2. Chùa Động Lâm được tạo dựng không chỉ là nơi tu hành của các nhà sư và tín đồ Phật giáo mà một thời còn là trung tâm sinh hoạt làng xã trong hoàn cảnh “đất vua, chùa làng” thời phong kiến. Đây là ngôi chùa tiêu biểu cho tín ngưỡng tôn giáo kết hợp với tín ngưỡng bản địa và triết lý Phương Đông.Chùa được xây dựng ở giữa khu dân cư trù phú, phía trước có hồ nước rộng. Tam quan chùa có gác chuông, ở đây lưu giữ một quả chuông lớn “Động Lâm tự chung” đúc năm Minh Mệnh thứ 5 (1824) ghi tên những người công đức tu sửa chùa. Sân chùa có một bia đá khắc nổi 4 chữ “Động Lâm tự bi”, ghi niên hiệu “Đức Long vạn vạn niên”, diềm bia chạm khắc những hình hoa văn mang đặc trưng của nghệ thuật thế kỷ 16… Điều đó có thể cho phép chúng ta đoán định rằng chùa được xây dựng vào khoảng thế kỷ 16 và được trùng tu lớn vào thời Nguyễn (thế kỷ 19). Đó đã từng là một ngôi chùa lớn nhất vùng với rất nhiều ruộng, vườn và tịnh xá, có hai cây tháp cao chứa đựng hài cốt của 2 nhà sư trụ trì tại chùa. Hiện nay chùa gồm 2 tòa: Bái đường và thượng điện, với bố cục kiến trúc theo kiểu chữ Đinh, không gian cảnh quan cũng thu hẹp lại.Với chức năng là nơi thờ Phật nên nghệ thuật chạm khắc của chùa Động Lâm không cầu kỳ mà chỉ là những họa tiết trang trí đơn giản ở các bức cốn, dép hoành… để tạo cảm giác thanh thoát cho các phần cấu kiện gỗ, tạo sự hài hòa giữa kiến trúc và tượng pháp.Đặc biệt, chùa Động Lâm được biết đến với giá trị tiêu biểu trong nghệ thuật tạc tượng tròn của các nghệ nhân dân gian từ những thế kỷ trước. Hệ thống tượng đẹp và khá phong phú bao gồm cả tượng Phật, tượng Thần. Toàn bộ hệ thống tượng được sơn son thếp vàng, màu sắc hài hòa, được bài trí trong thượng điện theo thứ tự từng lớp từ cao xuống thấp, ở giữa sang hai bên tả hữu. Tiêu biểu là các tượng: Tam thế, Di Đà Tam tôn, Tuyết Sơn, Ngọc Hoàng, Thích Ca - Cửu Long, Quan Âm Thiên thủ Thiên nhãn (hay Quan Âm Nam Hải), Quan Âm Tọa Sơn, Tứ Bồ Tát, Thập Điện Diêm Vương, Thánh Tăng, Đức Ông v.v. Tiêu biểu nhất là bức tượng Quan âm Thiên thủ Thiên nhãn được tạc bằng gỗ, cao 2,7m, hiện đang được trưng bày ở Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam (pho Quan Âm Nam Hải hiện ở chùa là bản sao). Đây là bức tượng lớn nhất và có niên đại sớm nhất của chùa. Tượng được tạc rất đẹp, ngồi thiền trên tòa sen, đội tòa sen là đầu người có khuôn mặt hình thủy quái, tất cả được đặt trên đế hình lục lăng chia làm 3 tầng trang trí tỉ mỉ, chau chuốt. Toàn bộ phần tượng và đế là một tác phẩm nghệ thuật điêu khắc gỗ tài tình, hài hòa cả về nội dung và hình thức, với trình độ kỹ thuật tinh xảo, hoàn mỹ mang sinh khí của nghệ thuật phật giáo thế kỷ 16 (thời Mạc). Bên cạnh đó, ở chùa Động Lâm, hình tượng Quan Âm Tọa Sơn bồng một đứa bé (vì thế còn gọi là Quan Âm Tống Tử) với Kim Đồng và Ngọc nữ ở 2 bên đã được dân gian hóa thành hình ảnh Quan Âm Thị Kính hay còn có tên gọi khác là Mụ Thiện, tượng này mang phong cách thời Lê xuất hiện từ khoảng thế kỷ 17. Cũng khoảng thời gian này, chùa Động Lâm có các tượng Tứ Bồ Tát (Ái, Ngữ, Sách và Quyền Bồ Tát), tượng đứng trên tòa sen, đầu đội mũ thất phật, hai tay thon dài, các ngón tay thon dài chắp trước ngực. Đây cũng được xem là 4 tác phẩm rất có giá trị từ thời Lê…Chùa Động Lâm hiện nay đã được chính quyền và nhân dân địa phương góp tâm góp sức tôn tạo khang trang, chắc khỏe, cảnh quan thoáng, đẹp, để đón tăng ni, phật tử, khách tham quan từ khắp nơi về lễ Phật và vãn cảnh chùa. Kết hợp với các chương trình quy hoạch phát triển kinh tế xã hội của vùng, trong tương lai không xa, di tích này không chỉ đơn thuần là một trung tâm tôn giáo địa phương mà còn có thể trở thành một điểm tham quan du lịch đặc sắc thu hút phật tử, khách tham quan và những người quan tâm tới nghệ thuật điêu khắc gỗ (ở đây là nghệ thuật tạc tượng tròn) Việt Nam.

Thứ Hai, 10 tháng 8, 2009


GIẢI MÃ BỨC TRANH CỔ
Nguyễn Anh Ngọc

Tranh thờ trong tín ngưỡng Đạo giáo có mối quan hệ mật thiết với thầy cúng (mo, tào) và hệ thống đồ thờ khác như: mũ, áo, ấn, kiếm, mặt nạ, bùa chú,…phục vụ các nghi lễ theo phong tục, tập quán của cộng đồng người dân tộc. Gắn liền với lễ cúng ấy tranh thờ đóng vai trò quan trọng về mặt diễn tả hình thức tín ngưỡng thể hiện khát vọng, lối tư duy, cách hành xử giữa con người và các vị thần linh.Tuy nhiên ở mỗi nội dung đề tài trong tranh thờ nó chỉ phục vụ theo từng mục đích mang tính riêng biệt trong các nghi lễ của gia đình hay cộng đồng xã hội.
Quá trình tìm hiểu tín ngưỡng tranh thờ của người Cao Lan, xã Quang Yên, huyện Sông Lô người viết sưu tầm được bức tranh cổ khá còn nguyên vẹn, hình vẽ và màu sắc tươi nguyên trên giấy dó, nội dung hấp dẫn, lôi cuốn sự giải mã ý cổ nhân. Trên cơ sở so sánh nội dung, nhân vật, chữ viết, có thể phỏng đoán đây là bức vẽ quan Nam Tào, niên đại khoảng cuối thế kỷ XIX; và rất có thể bức vẽ chỉ là một trong bộ tranh đôi Nam Tào - Bắc Đẩu. Theo lai lịch các vị thần trong Đạo giáo, hai vị quan giúp việc Ngọc Hoàng thượng đế là quan Nam Tào chuyên coi sự sinh và ghi chép những việc tốt, còn quan Bắc Đẩu theo dõi việc tử và ghi chép cái xấu.
Về nghệ thuật bức tranh được bố cục, diễn tả theo ba lớp chiều dọc (30x70cm) các nhân vật trong tranh được sắp xếp thể hiện theo cấu trúc tranh thờ Phật, Tam toà, Tứ phủ,… nhưng gợi phảng phất mô típ, màu sắc các dòng tranh dân gian Đông Hồ (Bắc Ninh), Hàng Trống (Hà Nội) hay tranh làng Sình (Huế). Tuy nhiên các nét vẽ trên tranh thờ Nam Tào có phần nghiêng về tả thực, tinh tế với lối vẽ công bút, dầm bút tạo nên mảng khối, màu sắc trong tranh thật uyển chuyển, sinh động dàn trải theo ba tầng nhân vật dựa trên mô phỏng kiến trúc thượng tầng (thiên đình- hạ giới- âm phủ) được diễn ý theo quy tắc cao thấp, chức sắc trong xã hội biểu thị trên một vùng không gian, thời gian thực ảo khác nhau bằng các mảng khối màu sắc xanh, đỏ, vàng, trắng,.. tự nhiên mang tính ước lệ biểu trưng hơn tả thực.
Ở tầng trên quan Nam Tào với khuôn mặt bầu tròn nghiêm nghị, đầu đội mũ kiểu cánh chuồn, xung quanh đầu có vòng hào quang, thân mặc áo thụng trước ngực có hình tròn thêu vân mây, bụng thắt đai, tay phải cầm bút, tay trái cầm sổ theo dõi sự sinh tồn và ghi chép những việc tốt của con người dưới hạ giới. Để biểu đạt hình tượng vị thần chủ, người hoạ công xưa đã dụng ý vẽ to hình ảnh quan Nam Tào nổi bật ở vị trí cao nhất; phía sau có một văn quan đứng hầu, thân hơi cúi khum, hai tay chắp lễ như chờ sự chỉ bảo.
Tầng giữa là hình vẽ ba vị văn quan đứng xếp hàng ngang, khuôn mặt hiền từ, râu dài, đầu đội mũ tròn, áo thụng, sắc phục mỗi vị quan có khác nhau, hai tay chắp lễ trước ngực với dáng vẻ nghiêm trang, cung kính. Ở chi tiết các nhân vật thần phụ, nét chung được vẽ nhỏ giống nhau không cụ thể ở đặc tính nhân vật, trang phục, có lẽ người hoạ công vẽ tranh thờ đã giữ nghiêm ý tưởng tôn giáo nhằm tôn vinh vị thần chủ. Đó là nét chung trong cách thể hiện tranh thờ.
Tầng cuối nội dung được khắc hoạ rõ nét qua nhân vật thần Sấm với khuôn mặt dữ tợn, râu quai nón, mình cởi trần, mặc quần thụng bó tới gối, chân đứng trên tầng mây cuộn nổi, người hơi cúi như dùng lực kéo ngược vòng tròn luân hồi đang chạy tuần tự theo chiều kim đồng hồ để thực hiện lệnh trừng phạt của thiên đình với những người phạm tội dưới hạ giới. Vòng tròn luân hồi được thể hiện với năm dải mây có hình người, trâu, bò, lợn, gà, cá, tôm,… nối tiếp quay vòng; phải chăng những linh hồn đó còn phải ở lại kiếp sống trần gian để tu chính quả. Đối diện với mảng không gian trầm luân là một dải mây trắng có chữ Thiên Sinh (Hán) bay từ giữa vòng luân hồi lên cao đưa linh hồn ba người ăn mặc đẹp, khuôn mặt an nhàn phúc hậu, tay cầm ngọc tỉ đi về phía thiên đàng tiêu dao nơi cảnh bụt.
Với lối biểu đạt logic theo một trật tự từ thiên đình-hạ giới-âm phủ người hoạ công vẽ tranh thờ đã rất thành công ở cả lĩnh vực hình thức và nội dung thể hiện. Làm cho bức tranh thờ Nam Tào không chỉ đẹp mà còn hàm chứa ý nghĩa giáo dục sâu sắc tới mọi thành viên trong cộng đồng xã hội, thông qua nghệ thuật miêu tả nhân vật (Nam Tào, thần Sấm, kiếp người, thiên đàng, âm phủ) theo quan niệm dân gian đã truyền tải ngôn ngữ đượm chất tâm linh giáo huấn, nhằm khuyến khích cái thiện, cái công bằng, ai ăn ở phúc đức sau khi thác (chết) sẽ được lên thiên đàng, còn người sống bất nhân, thất đức sẽ bị Diêm Vương (Vua địa ngục) trừng phạt đầu thai nơi kiếp khác để cải tà, qui chính.
Nội dung bức tranh như dàn trải ra một bộ phận thế giới thần linh trong Đạo giáo, từ cao tới thấp, chính đến phụ, từ gần tới xa như được cộng hưởng với nhau bằng một tư duy nghệ thuật và giáo dục đậm tính tôn giáo, khiến hệ thần Đạo giáo trong tranh được thăng hoa một cách trực tiếp có hậu ở hồi kết; người xem tranh thông qua đó mà tự răn mình, xét lại những việc mình đã làm và sống để tu nhân tích đức, tránh xa mọi thói hư tật xấu, đẩy lùi cái ác trong xã hội, hướng cuộc sống vươn tới thân-thiện-mỹ.
n.a.n
NHỮNG TƯ LIỆU VỀ TAM ĐẢO VÀ QUY HOẠCH CỦA NGƯỜI PHÁP
Nguyễn Anh Ngọc
“Nước Nam có ngàn Đông Lộ
Xứ Bắc Kỳ có dải Tây Thiên”
Câu ca như phác hoạ dải núi, rừng Tây Thiên - Tam Đảo kỳ vĩ với chiều dài trên 80km, rộng từ 10-15 km, chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam có toạ độ địa lý từ 2021-2142 vĩ độ Bắc và từ 10523-10544 kinh độ Đông. Từ xưa Tam Đảo đã có hệ động, thực vật phong phú, cùng hang động, thác nước, khí hậu thuận lợi cho khai thác du lịch, nghỉ dưỡng.
Nhận thấy giá trị tiềm năng thiên nhiên ở Tam Đảo để xây dựng Trạm nghỉ mát cho quan chức, gia đình người Pháp ở xứ Bắc Kỳ và Đông Dương. Năm 1904 một phái đoàn quân sự do phủ Toàn quyền giao nhiệm vụ lập dự án đã tiến hành thám sát lên Tam Đảo theo đường mòn của dân sơn tràng, lúc đó trên điểm cao khoảng 900m so với mặt nước biển; đoàn thám sát phát hiện khu vực thung lũng lòng chảo của một trong ba ngọn núi Thạch Bàn, Phù Nghĩa, Thiên Thị đã có bản người Dao sinh sống; vị trí thung lũng được bao bọc bởi hệ rừng già nguyên sinh với thảm thực vật dày đặc đã tạo nên một vùng tiểu khí hậu riêng biệt trung bình từ 18-22oC, có thể đáp ứng yêu cầu của dự án.
Năm 1906, người Pháp đã dồn bản Dao sinh sống ở thung lũng xuống vị trí bên dưới để triển khai dự án xây dựng Trạm nghỉ mát Tam Đảo qua một số sơ đồ quy hoạch (bản coppy hiện lưu tại Thư viện tỉnh) sau:
1. Sở Địa chính tỉnh Vĩnh Yên. Sơ đồ khu nghỉ mát Tam Đảo, tờ thứ 2. Tỷ lệ 1/1000. Năm 1938.2. Bản sơ đồ các khu nghỉ dưỡng trên cao Tam Đảo. Tỉ lệ 1/2000.3. Sơ đồ lô cấp cho quân sự ở Tam Đảo trích từ Sơ đồ chia lô đất ở Tam Đảo gồm các lô 29-29B & 30. 4. Sở Công chính khu Tam Đảo. Sơ đồ chia lô đất 51- 64. Tỷ lệ 1/500.5. Trích Sơ đồ phân lô đất khu Đông Tam Đảo. Tỷ lệ 1/2000.6. Sở Địa chính tỉnh Vĩnh Yên. Khu Nam Tam Đảo, trích Sơ đồ mảnh đất cho ông Brachet diện tích 132m2. Tỷ lệ 1/1000.7. Sơ đồ Dự án mở rộng phía Đông Nam - Khu nghỉ mát Tam Đảo. Tỉ lệ 1/1000. Năm 1938.8. Sơ đồ toàn cảnh khu nghỉ mát Tam Đảo đề xuất đặt tên đường phố. Ngày 14-2-1939.
Với 8 Sơ đồ quy hoạch xây dựng Trạm nghỉ mát Tam Đảo nêu trên, có thể còn chưa đủ so với thực tế của quá trình hơn 30 năm xây dựng (khoảng từ 1906-1943). Tuy nhiên qua tìm hiểu, nghiên cứu các sơ đồ cho chúng ta nhận biết tính khoa học khá rõ ở điểm sau:
Thứ nhất: Sơ đồ các khu nghỉ dưỡng trên cao Tam Đảo được quy hoạch chi tiết theo hướng mở (hoà nhập không gian xanh) đan xen với các thiết chế hạ tầng (nhà Phủ thống sứ, Công sứ Vĩnh Yên, bưu điện, nhà thờ, công viên - thể thao văn hoá, bể bơi,…) kết hợp với khu đất quân sự (mang tính an ninh, phòng thủ chiến lược).
Thứ hai: Khi các hạng mục hạ tầng cơ bản hoàn thiện; năm 1938, người Pháp quy hoạch mở rộng khu nghỉ mát Tam Đảo ra phía Đông Nam (thể hiện phát triển chiến lược). Đến năm 1939, người Pháp tiến hành vẽ sơ đồ đặt tên đường phố cho khu nghỉ mát (bước khẳng định vị trí thị tứ của khu du lịch, nghỉ mát Tam Đảo).
Dựa vào hai điểm trên có thể thấy, sau hơn 30 năm xây dựng với gần 200 hạng mục công trình như Bưu điện, Nhà thờ, công viên, khu thể thao, bể bơi, nhà hàng, khách sạn, biệt thự, đường giao thông... đã tạo nên Trạm nghỉ mát mùa hè Tam Đảo khoa học, vừa là nơi du lịch, nghỉ dưỡng lý tưởng vào mùa hè nhưng đồng thời cũng là một pháo đài phòng thủ chiến lược (sau này phát xít Nhật đã biết sử dụng điểm cao để lập đồn trú). Hơn nữa quá trình xây dựng Tam Đảo được người Pháp đúc kết từ bài học kinh nghiệm trong tổ chức quy hoạch, xây dựng, kiến trúc các khu nghỉ ở Đà Lạt, Sa Pa,… Chẳng vì thế khi các hạng mục hạ tầng cơ bản hoàn thiện, thời đó người Pháp đã ví Tam Đảo với mỹ tự Hòn ngọc viễn đông. Sau này Tam Đảo bị tiêu thổ trong kháng chiến chống Pháp (khoảng 1947-1949); nay chỉ còn lưu lại ít ỏi thông tin qua tài liệu, hình ảnh cùng một số dấu tích bị chôn vùi dưới những lớp cỏ cây và sương mờ.
Xem tư liệu xưa cũng là dịp ôn cũ, biết mới. Hy vọng trong tương lai gần, Tam Đảo được quy hoạch, xây dựng theo phương châm Xanh - Sạch - Đẹp và phát triển bền vững trong lòng của núi rừng Tây Thiên - Tam Đảo kỳ vĩ. Xứng đáng là Di sản thiên nhiên, điểm đến lý tưởng cho du khách trong nước và nước ngoài khi mỗi lần ghé thăm Vĩnh Phúc.








Con Nghê - linh vật thuần Việt

Hai linh vật đặc thù của văn hóa Việt Nam là chim hạc và con nghê, thế nhưng trong khoảng trăm năm gần đây, ta thường thấy rồng và lân được dùng trang trí trong các đền chùa, dinh thự lớn. Như tượng hai con lân trắng ở ngay trước sân chùa Vĩnh Nghiêm, Sài Gòn chẳng hạn. Những ngôi nhà lớn của người Việt ở hải ngoại hay ở trong nước cũng trang trí bằng tượng con lân.
Chim hạc là linh vật từ thời các vua Hùng dựng nên nước Văn Lang ta, vậy con nghê xuất hiện từ bao giờ ? Phải chăng từ đời Lý, khi nền văn hóa thuần Việt được phục hồi và phát triển sau một ngàn năm Bắc Thuộc ?


Con Nghê là gì?
Trong đời sống của người dân Việt, hai con thú được coi như những người bạn thân thiết, gần gũi và quan trọng nhất là con trâu và con chó. Trâu để cầy ruộng, giúp sản xuất lúa gạo, chó để giữ nhà, phòng kẻ gian, phòng thú dữ. Đời sống thực tế có chó giữ nhà, còn đời sống tinh thần thì sao? Ông cha ta cũng cần một linh vật để chống lại các tà ma ác quỷ nữa chứ.
Chó đá được dựng lên vì thế. Ở làng quê miền Bắc Việt Nam, trước cổng làng bao giờ cũng có một con chó đá để bảo vệ cả làng, trước cổng đình bao giờ cũng có chó đá, và trước cổng nhà hay ở ngoài đầu hồi, ngoài cửa nhà cũng thường có chó đá ngồi trước canh giữ cho gia chủ. Những con chó đá này hình dạng thay đổi, cao khoảng từ nửa thước tới một thước, thường là những tảng đá được khắc đẽo rõ ràng oai vệ, nhưng có khi chỉ là một khối đá đặt nghiêng theo dáng một con chó đang ở thế ngồi canh giữ.
Rồi để bầy chó đá hoá linh trước điện thờ, hay bàn thờ ở những nhà giàu có, ở các đình chùa đền miếu, chó đá được khắc đẽo với những chi tiết oai vệ, đầu chó, mặt chó đầy những nét uy nghiêm. Vì linh thiêng như thế, nên được gọi là con Nghê. Thủa nhỏ, vào khoảng đầu thập niên 1950 ở Thái Bình, còn thấy ở nhà cụ Hà Ngọc Huyền, ông ngoại chúng tôi có trưng tượng con Nghê cao gần một thước ngay lối vào phòng khách cùng với những bình, những chóe đời Khang Hy nhà Thanh, đời Minh… Con Nghê này không biết nay đã lưu lạc về đâu?
Tóm lại con Nghê là một linh vật được sáng tạo để bảo vệ đời sống tâm linh của người Việt. Con Nghê thường được thấy qua các món đồ gốm như:

Nậm rượu hình nghê
Vài hình tượng con Nghê tiêu biểu
1. Tượng con Nghê: Dựa trên nước men, mầu men, chất đất ta có thể định rằng đây là một tác phẩm đời Lý (thế kỷ 11 –12). Con Nghê này cao độ 36cm, bằng đất nung, phủ men nâu, nét tô đắp cực kỳ tinh xảo, con Nghê trông sống động, oai vệ, tưởng chừng như có thể phóng lên xua đuổi tà ma ngay tức khắc. Mặt Nghê ngắn. Mình Nghê thon dài, rất thanh tú. Cổ Nghê đeo dây lục lạc có tua, cổ ngửng thẳng. Lông trên sống lưng dựng đứng như một hàng kỳ, chạy suốt từ đỉnh đầu xuống đến đuôi. Chân Nghê thanh nhưng thẳng và mạnh, chân sau ở thế ngồi bắp thịt đùi trông rắn chắc mạnh mẽ, hai chân trước chống cao, chỗ đầu gối có lông xoắn cong. Mắt to, miệng lớn, mũi lớn, miệng Nghê hơi hé mở để lộ những răng nanh nhọn hoắt, như sẵn sàng xua đuổi tà ma. Tai Nghê lớn nhưng không dựng lên như tai chó. Lông Nghê mượt sát vào mình với những đường khắc, uốn từ sống lưng xuống phía bụng, trông như vằn chó.
2. Nậm rượu hình con Nghê: Chúng tôi xin đưa ra hình hai nậm rượu hình con Nghê, một mầu nâu, một mầu đen. Nghê với hình dáng và thế ngồi cũng như mô tả ở trên, tuy rằng các chi tiết không sắc sảo bằng. Nghê ngồi trên một bầu rượu có dáng trên tròn dưới ống. Mình Nghê rỗng, trên lưng Nghê có vòi loe để chuyên rượu vào (nắp đậy chỗ này không còn, cho nên ta không biết nắp cũng làm bằng đất sét nung hay bằng gỗ hoặc lá cuộn). Rượu được rót ra từ vòi dài đi từ thân nậm, tựa như cọc với dây xích buộc Nghê.
3. Bình trầm hương hình Nghê: Mầu men, nước men, chất đất, độ nung của các bình hương này cho thấy đây là các tác phẩm làm thời Chu Đậu (thế kỷ 16, 17, 18 ) chứ không phải đồ đời Lý hay đời Trần. Bình hương gồm hai phần, phần dưới là một hộp nhỏ hình chữ nhật. Đây là chỗ bỏ trầm vào đốt. Phần trên là nắp. Nắp là con Nghê ngồi trên một mặt phẳng đậy vừa kín phần dưới. Mình Nghê rỗng, khi đốt, trầm khói từ phần hộp phía dưới luồn trong mình Nghê rồi bay ra từ miệng Nghê đang hơi khẽ mở, trông rất oai nghiêm. Vì trầm được đốt trong hộp kín phía dưới mà chỉ có thể thoát khói ra khỏi miệng Nghê nên cháy rất chậm, vừa toả đủ khói hương để mang đầy vẻ linh thiêng mà vẫn cháy lâu cả buổi.
Phân biệt con Nghê và con Lân
Con Nghê là linh vật đặc biệt của văn hóa Việt Nam, con Lân thuộc văn hóa Trung Hoa. Về hình dạng, con Lân giống sư tử, đầu có 1 sừng, chân ngựa, mình tròn mập có vảy, đuôi ngắn, miệng ngậm quả cầu, hay ngồi chống chân lên quả cầu. Con Nghê có kỳ mà không có sừng, mình thon nhỏ, dáng thanh, đuôi dài, trông rõ ràng dáng chó. Một số bình hương, chân đèn gốm Việt Nam thời Chu Đậu làm vào khoảng thế kỷ 16, 17 cũng có hình con lân, nhìn vào thì thấy rõ ngay là con lân chứ không phải là con nghê. (Trong sách "Vietnamese ceramics - a separate tradition" của John Guy và John Stevensen soạn, có nhiều hình bình hương trầm với con nghê nhưng đồng thời lại có hình con lân mà ghi chú nhầm là con nghê).

Tượng con Lân
Thời thịnh đạt của Con Nghê
Trong những thế kỷ Bắc Thuộc khi người Trung Hoa làm đủ mọi cách để hủy diệt văn hoá Việt Nam, như: tịch thu, hủy diệt và cấm làm trống đồng, bắt người Việt đổi theo họ Tầu (vì thế những họ cổ Việt Nam như họ Trưng (Trưng Trắc)… không còn nữa….), thì không biết ông cha ta có làm hình tượng chó đá và con Nghê không? Quan sát cách sinh hoạt của người Thượng trên các miền cao nguyên, ta thấy rằng con chó vẫn là con vật rất quan trọng của đời sống thôn dã. Vậy thì ai có thể quả quyết rằng, chó đá, con Nghê không được phát sinh từ thời xa xưa? Tuy nhiên chúng tôi cũng chưa có dịp may được thấy các hình ảnh hay vật tích hình con Nghê của thời đại cổ xưa này. Ước rằng có người với những phương tiện đầy đủ sẽ làm các việc khai quật nghiên cứu và tìm ra di tích con Nghê từ thời xa xưa.
Khi Đinh Bộ Lĩnh dành lại nền tự chủ cho nước Việt, nhà Lý, nhà Trần, rồi nhà Lê nối ngôi dựng lại nền văn hóa thuần Việt phong phú cùng văn học, xã hội, chính trị, nghệ thuật tạo hình của người Việt phát triển rực rỡ.
Trong bối cảnh văn hoá ấy, với sự nẩy nở của những nghệ phẩm, tác phẩm Việt Nam, sự phát triển của kiến trúc đình chùa, sự phát triển của giới quý tộc, trưởng giả càng đòi hỏi nhiều hơn nữa những phẩm vật tế tự, sinh hoạt và trưng bày. Khung cảnh và nhu cầu này đưa đến biết bao phát triển của nghệ thuật tạo hình. Nhu cầu tinh thần, nhu cầu vật chất được đáp ứng bởi bàn tay, khối óc của các nghệ nhân Việt lúc nào cũng xông xáo sáng tạo. Biết bao kiến trúc, cung điện, đình chùa với mái cong thuần túy Việt được dựng lên. Đồ gốm Việt Nam bừng lên tổng hợp kỹ thuật và sắc men Trung Hoa với dạng thức, nét vẽ, và phong cách hoàn toàn Việt Nam. Từ đây những bình, ấm, tô, chén, đĩa… những món đồ Lý Trắng, Lý Nâu, Lý Lục, Lý Đen, những món đồ men ngọc, chuyển qua những món men trắng hoa chàm của đời Trần, đời Lê tuyệt vời, được sản xuất mạnh mẽ. Rồi tiếp theo đó, sang thế kỷ 16, 17, 18 là thời của gốm Chu Đậu, thời tuyệt đỉnh của đồ gốm Việt Nam, với biết bao phẩm vật xuất cảng sang vùng Ba Tư, Nam Dương, Phi Luật Tân, Nhật Bản….
Dựa trên số lượng và phẩm tính của những con Nghê trong các viện bảo tàng và bộ sưu tập của các tư nhân, ta thấy rằng thời thịnh đạt nhất của con Nghê là từ đời Lý cho đến cuối đời Tây Sơn (thế kỷ 11 đến thế kỷ 18). Suốt từ đời Lý, Con Nghê được trọng dụng ở khắp mọi nơi, từ những ngôi nhà dân dã, từ cung đình, cho đến lâu đài, đình chùa, lăng miếu… Đến cuối đời Lê, loạn Trịnh Nguyễn phân tranh, đất nước đi vào 300 năm khói lửa, nhưng không vì thế mà văn hoá Việt điêu tàn mà trái lại càng phát triển mạnh thêm về mọi mặt (thơ văn, kiến trúc, khắc gỗ, gốm sứ …). Trong suốt 8 thế kỷ này, các bình hương trầm, các nậm rượu, và các tượng hình con Nghê là những món không thể thiếu ở nơi tế tự, ở các nhà trưởng giả cho đến nhà bình dân.

Tượng Nghê cổ
Thời suy tàn của con Nghê
Khi Nguyễn Ánh thống nhất sơn hà, triều đình nhà Nguyễn - có lẽ do mặc cảm, do lòng thù ghét các dấu vết văn hóa của đất Bắc, của nhà Trịnh, nhà Tây Sơn - đã quay lưng lại văn hóa Việt Nam mà ưa chuộng văn hóa Trung Hoa. Thế nên, con rồng Việt Nam uyển chuyển của đời Lý Trần Lê, đã bị thay bằng con rồng Tầu thân mập vẩy to, mặt ngắn. Thế nên, thành Thăng Long bị phá đi xây lại nhỏ hơn và biết bao cung điện đời trước (còn lại sau những năm dài chinh chiến) đã bị nhà Nguyễn cho phá đi. Thế nên, trong dù đang chật vật cạnh tranh với đồ gốm Tầu trên thị trường quốc tế, cả một kỹ nghệ đồ gốm Việt nam đã không được triều đình nâng đỡ. Thay vào đó, các món đồ dùng trong cung đình Huế thì được đặt làm từ các lò gốm ở bên Tầu. Thế nên, cả làng Chu Đậu (Hải Dương) phải bỏ nghề gốm mà chuyển qua nghề dệt chiếu (một số nhỏ đã dọn đến Bát Tràng tiếp tục nghề cũ, trong phạm vi rất nhỏ hẹp so với Chu Đậu). Trong các cung điện ở Huế, con Nghê không được dùng, vì đã bị con Lân của Tầu thay thế. Các lư trầm bằng đồng với hình tượng con Lân trên nắp trở nên phổ thông. Các nhà trưởng giả đua theo triều đình chuộng các linh tượng Trung Hoa. Kỹ nghệ đồ gốm tàn lụi, con Nghê chỉ còn sót lại trong những bàn thờ cổ ở chốn thôn dã. Hãy đi đến các ngôi chùa, các kiến trúc ở Việt Nam làm từ thế kỷ 19, ta thấy ngay rằng, con rồng Việt đã biến đổi, con Nghê đã bị thay bằng con Lân, chim Hạc chỉ còn là biểu tượng xưa cũ.
Thương thay, các biểu tượng thuần Việt, các nét tạo hình thuần Việt không còn được người Việt biết đến nữa.
Lâu nay, khi đi qua cửa các nhà giàu có ở Hoa Kỳ, ta vẫn thấy chủ nhà hãnh diện bầy hai con Lân hai bên cửa, cứ như là chùa Tầu. Ở các lò gốm bên Việt Nam, ở Non Nước, Đà Nẵng-Hội An, các nhà khắc chạm cẩm thạch, đâu đâu cũng chỉ sản xuất toàn con Lân mà không có con Nghê. Buồn thay! Chúng tôi ước ao rằng các nhà làm đồ gốm Việt Nam sẽ làm lại tượng con Nghê, bình hương trầm con Nghê để tất cả chúng ta còn hãnh diện nối theo dòng văn hóa Việt Nam của ông cha thủa trước.




Thứ Sáu, 7 tháng 8, 2009


ĐÌNH THỔ TANG


Đình làng Thổ Tang thuộc huyện Vĩnh Tường được tạo dựng từ thế kỷ XVII. Trải qua bao thời gian ngày nay đình còn bảo lưu được tương đối nguyên vẹn kiểu thức kiến trúc thời Hậu Lê.
Đình thờ vị danh tướng Lân Hổ, một người có công đánh giặc Nguyên Mông ở thế kỷ XIII. Tương truyền, theo lệnh Vua Trần, Lân Hổ đã dẫn quân lên vùng Gia Ninh (nay thuộc tỉnh Phú Thọ) lập phòng tuyến, bày binh bố trận, chỉ huy quân sĩ chiến đấu bảo vệ kinh đô Thăng Long. Hiện nay suốt một dải từ Dục Mỹ- Sơn Vi (Phú Thọ) đến Vĩnh Tường - Yên Lạc (Vĩnh Phúc) đều có di tích thờ tướng Lân Hổ trong đó đình Thổ Tang là trung tâm để tổ chức lễ hội cùng những trò diễn, hèm tục tưởng niệm về vị tướng tài và cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm bảo vệ đất nước của dân tộc ta thời Trần.
Đình Thổ Tang được xây dựng với quy mô đồ sộ, gồm hai toà kiến trúc bố cục theo hình chữ "đinh". Hiện còn lưu giữ được 21 bức chạm khắc gỗ hết sức tinh tế, được thể hiện trên các thành phần kiến trúc: Thân kẻ, thân bẩy, thân rường, nội dung phong phú, khái quát về chu trình: lao động - làm ăn - hưởng thụ của cư dân nông nghiệp, của nhân dân ta thời Lê Trung Hưng. Các bức chạm ở đây được sắp xếp thứ tự theo chu trình đó. Bước vào cửa đình thì thấy ngay bức chạm đầu tiên là "ngày hội xuống đồng" (lễ tịch điền) rồi lần lượt đến các bức "bắn thú dữ" để bảo vệ mùa màng, thôn xóm. Cảnh vui chơi giải trí có: "đá cầu", "chơi cờ", "uống rượu", "người múa". Cảnh sinh hoạt gia đình có: "trai gái tình tự", "gia đình hạnh phúc". Phê phán những thói hư tật xấu có: "đánh ghen", "vợ chồng lười". Trang trí thờ phụng gồm các bức: "cửu long tranh châu", "bát tiên quá hải" và nhiều hình rồng, phượng khác. Đình làng Thổ Tang là một trong những ngôi đình đạt đến đỉnh cao về mỹ thuật điêu khắc gỗ cổ dân gian thời Hậu Lê, là di tích được xếp hạng quốc gia sớm nhất ở Vĩnh Phúc