Thứ Hai, 10 tháng 8, 2009


GIẢI MÃ BỨC TRANH CỔ
Nguyễn Anh Ngọc

Tranh thờ trong tín ngưỡng Đạo giáo có mối quan hệ mật thiết với thầy cúng (mo, tào) và hệ thống đồ thờ khác như: mũ, áo, ấn, kiếm, mặt nạ, bùa chú,…phục vụ các nghi lễ theo phong tục, tập quán của cộng đồng người dân tộc. Gắn liền với lễ cúng ấy tranh thờ đóng vai trò quan trọng về mặt diễn tả hình thức tín ngưỡng thể hiện khát vọng, lối tư duy, cách hành xử giữa con người và các vị thần linh.Tuy nhiên ở mỗi nội dung đề tài trong tranh thờ nó chỉ phục vụ theo từng mục đích mang tính riêng biệt trong các nghi lễ của gia đình hay cộng đồng xã hội.
Quá trình tìm hiểu tín ngưỡng tranh thờ của người Cao Lan, xã Quang Yên, huyện Sông Lô người viết sưu tầm được bức tranh cổ khá còn nguyên vẹn, hình vẽ và màu sắc tươi nguyên trên giấy dó, nội dung hấp dẫn, lôi cuốn sự giải mã ý cổ nhân. Trên cơ sở so sánh nội dung, nhân vật, chữ viết, có thể phỏng đoán đây là bức vẽ quan Nam Tào, niên đại khoảng cuối thế kỷ XIX; và rất có thể bức vẽ chỉ là một trong bộ tranh đôi Nam Tào - Bắc Đẩu. Theo lai lịch các vị thần trong Đạo giáo, hai vị quan giúp việc Ngọc Hoàng thượng đế là quan Nam Tào chuyên coi sự sinh và ghi chép những việc tốt, còn quan Bắc Đẩu theo dõi việc tử và ghi chép cái xấu.
Về nghệ thuật bức tranh được bố cục, diễn tả theo ba lớp chiều dọc (30x70cm) các nhân vật trong tranh được sắp xếp thể hiện theo cấu trúc tranh thờ Phật, Tam toà, Tứ phủ,… nhưng gợi phảng phất mô típ, màu sắc các dòng tranh dân gian Đông Hồ (Bắc Ninh), Hàng Trống (Hà Nội) hay tranh làng Sình (Huế). Tuy nhiên các nét vẽ trên tranh thờ Nam Tào có phần nghiêng về tả thực, tinh tế với lối vẽ công bút, dầm bút tạo nên mảng khối, màu sắc trong tranh thật uyển chuyển, sinh động dàn trải theo ba tầng nhân vật dựa trên mô phỏng kiến trúc thượng tầng (thiên đình- hạ giới- âm phủ) được diễn ý theo quy tắc cao thấp, chức sắc trong xã hội biểu thị trên một vùng không gian, thời gian thực ảo khác nhau bằng các mảng khối màu sắc xanh, đỏ, vàng, trắng,.. tự nhiên mang tính ước lệ biểu trưng hơn tả thực.
Ở tầng trên quan Nam Tào với khuôn mặt bầu tròn nghiêm nghị, đầu đội mũ kiểu cánh chuồn, xung quanh đầu có vòng hào quang, thân mặc áo thụng trước ngực có hình tròn thêu vân mây, bụng thắt đai, tay phải cầm bút, tay trái cầm sổ theo dõi sự sinh tồn và ghi chép những việc tốt của con người dưới hạ giới. Để biểu đạt hình tượng vị thần chủ, người hoạ công xưa đã dụng ý vẽ to hình ảnh quan Nam Tào nổi bật ở vị trí cao nhất; phía sau có một văn quan đứng hầu, thân hơi cúi khum, hai tay chắp lễ như chờ sự chỉ bảo.
Tầng giữa là hình vẽ ba vị văn quan đứng xếp hàng ngang, khuôn mặt hiền từ, râu dài, đầu đội mũ tròn, áo thụng, sắc phục mỗi vị quan có khác nhau, hai tay chắp lễ trước ngực với dáng vẻ nghiêm trang, cung kính. Ở chi tiết các nhân vật thần phụ, nét chung được vẽ nhỏ giống nhau không cụ thể ở đặc tính nhân vật, trang phục, có lẽ người hoạ công vẽ tranh thờ đã giữ nghiêm ý tưởng tôn giáo nhằm tôn vinh vị thần chủ. Đó là nét chung trong cách thể hiện tranh thờ.
Tầng cuối nội dung được khắc hoạ rõ nét qua nhân vật thần Sấm với khuôn mặt dữ tợn, râu quai nón, mình cởi trần, mặc quần thụng bó tới gối, chân đứng trên tầng mây cuộn nổi, người hơi cúi như dùng lực kéo ngược vòng tròn luân hồi đang chạy tuần tự theo chiều kim đồng hồ để thực hiện lệnh trừng phạt của thiên đình với những người phạm tội dưới hạ giới. Vòng tròn luân hồi được thể hiện với năm dải mây có hình người, trâu, bò, lợn, gà, cá, tôm,… nối tiếp quay vòng; phải chăng những linh hồn đó còn phải ở lại kiếp sống trần gian để tu chính quả. Đối diện với mảng không gian trầm luân là một dải mây trắng có chữ Thiên Sinh (Hán) bay từ giữa vòng luân hồi lên cao đưa linh hồn ba người ăn mặc đẹp, khuôn mặt an nhàn phúc hậu, tay cầm ngọc tỉ đi về phía thiên đàng tiêu dao nơi cảnh bụt.
Với lối biểu đạt logic theo một trật tự từ thiên đình-hạ giới-âm phủ người hoạ công vẽ tranh thờ đã rất thành công ở cả lĩnh vực hình thức và nội dung thể hiện. Làm cho bức tranh thờ Nam Tào không chỉ đẹp mà còn hàm chứa ý nghĩa giáo dục sâu sắc tới mọi thành viên trong cộng đồng xã hội, thông qua nghệ thuật miêu tả nhân vật (Nam Tào, thần Sấm, kiếp người, thiên đàng, âm phủ) theo quan niệm dân gian đã truyền tải ngôn ngữ đượm chất tâm linh giáo huấn, nhằm khuyến khích cái thiện, cái công bằng, ai ăn ở phúc đức sau khi thác (chết) sẽ được lên thiên đàng, còn người sống bất nhân, thất đức sẽ bị Diêm Vương (Vua địa ngục) trừng phạt đầu thai nơi kiếp khác để cải tà, qui chính.
Nội dung bức tranh như dàn trải ra một bộ phận thế giới thần linh trong Đạo giáo, từ cao tới thấp, chính đến phụ, từ gần tới xa như được cộng hưởng với nhau bằng một tư duy nghệ thuật và giáo dục đậm tính tôn giáo, khiến hệ thần Đạo giáo trong tranh được thăng hoa một cách trực tiếp có hậu ở hồi kết; người xem tranh thông qua đó mà tự răn mình, xét lại những việc mình đã làm và sống để tu nhân tích đức, tránh xa mọi thói hư tật xấu, đẩy lùi cái ác trong xã hội, hướng cuộc sống vươn tới thân-thiện-mỹ.
n.a.n
NHỮNG TƯ LIỆU VỀ TAM ĐẢO VÀ QUY HOẠCH CỦA NGƯỜI PHÁP
Nguyễn Anh Ngọc
“Nước Nam có ngàn Đông Lộ
Xứ Bắc Kỳ có dải Tây Thiên”
Câu ca như phác hoạ dải núi, rừng Tây Thiên - Tam Đảo kỳ vĩ với chiều dài trên 80km, rộng từ 10-15 km, chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam có toạ độ địa lý từ 2021-2142 vĩ độ Bắc và từ 10523-10544 kinh độ Đông. Từ xưa Tam Đảo đã có hệ động, thực vật phong phú, cùng hang động, thác nước, khí hậu thuận lợi cho khai thác du lịch, nghỉ dưỡng.
Nhận thấy giá trị tiềm năng thiên nhiên ở Tam Đảo để xây dựng Trạm nghỉ mát cho quan chức, gia đình người Pháp ở xứ Bắc Kỳ và Đông Dương. Năm 1904 một phái đoàn quân sự do phủ Toàn quyền giao nhiệm vụ lập dự án đã tiến hành thám sát lên Tam Đảo theo đường mòn của dân sơn tràng, lúc đó trên điểm cao khoảng 900m so với mặt nước biển; đoàn thám sát phát hiện khu vực thung lũng lòng chảo của một trong ba ngọn núi Thạch Bàn, Phù Nghĩa, Thiên Thị đã có bản người Dao sinh sống; vị trí thung lũng được bao bọc bởi hệ rừng già nguyên sinh với thảm thực vật dày đặc đã tạo nên một vùng tiểu khí hậu riêng biệt trung bình từ 18-22oC, có thể đáp ứng yêu cầu của dự án.
Năm 1906, người Pháp đã dồn bản Dao sinh sống ở thung lũng xuống vị trí bên dưới để triển khai dự án xây dựng Trạm nghỉ mát Tam Đảo qua một số sơ đồ quy hoạch (bản coppy hiện lưu tại Thư viện tỉnh) sau:
1. Sở Địa chính tỉnh Vĩnh Yên. Sơ đồ khu nghỉ mát Tam Đảo, tờ thứ 2. Tỷ lệ 1/1000. Năm 1938.2. Bản sơ đồ các khu nghỉ dưỡng trên cao Tam Đảo. Tỉ lệ 1/2000.3. Sơ đồ lô cấp cho quân sự ở Tam Đảo trích từ Sơ đồ chia lô đất ở Tam Đảo gồm các lô 29-29B & 30. 4. Sở Công chính khu Tam Đảo. Sơ đồ chia lô đất 51- 64. Tỷ lệ 1/500.5. Trích Sơ đồ phân lô đất khu Đông Tam Đảo. Tỷ lệ 1/2000.6. Sở Địa chính tỉnh Vĩnh Yên. Khu Nam Tam Đảo, trích Sơ đồ mảnh đất cho ông Brachet diện tích 132m2. Tỷ lệ 1/1000.7. Sơ đồ Dự án mở rộng phía Đông Nam - Khu nghỉ mát Tam Đảo. Tỉ lệ 1/1000. Năm 1938.8. Sơ đồ toàn cảnh khu nghỉ mát Tam Đảo đề xuất đặt tên đường phố. Ngày 14-2-1939.
Với 8 Sơ đồ quy hoạch xây dựng Trạm nghỉ mát Tam Đảo nêu trên, có thể còn chưa đủ so với thực tế của quá trình hơn 30 năm xây dựng (khoảng từ 1906-1943). Tuy nhiên qua tìm hiểu, nghiên cứu các sơ đồ cho chúng ta nhận biết tính khoa học khá rõ ở điểm sau:
Thứ nhất: Sơ đồ các khu nghỉ dưỡng trên cao Tam Đảo được quy hoạch chi tiết theo hướng mở (hoà nhập không gian xanh) đan xen với các thiết chế hạ tầng (nhà Phủ thống sứ, Công sứ Vĩnh Yên, bưu điện, nhà thờ, công viên - thể thao văn hoá, bể bơi,…) kết hợp với khu đất quân sự (mang tính an ninh, phòng thủ chiến lược).
Thứ hai: Khi các hạng mục hạ tầng cơ bản hoàn thiện; năm 1938, người Pháp quy hoạch mở rộng khu nghỉ mát Tam Đảo ra phía Đông Nam (thể hiện phát triển chiến lược). Đến năm 1939, người Pháp tiến hành vẽ sơ đồ đặt tên đường phố cho khu nghỉ mát (bước khẳng định vị trí thị tứ của khu du lịch, nghỉ mát Tam Đảo).
Dựa vào hai điểm trên có thể thấy, sau hơn 30 năm xây dựng với gần 200 hạng mục công trình như Bưu điện, Nhà thờ, công viên, khu thể thao, bể bơi, nhà hàng, khách sạn, biệt thự, đường giao thông... đã tạo nên Trạm nghỉ mát mùa hè Tam Đảo khoa học, vừa là nơi du lịch, nghỉ dưỡng lý tưởng vào mùa hè nhưng đồng thời cũng là một pháo đài phòng thủ chiến lược (sau này phát xít Nhật đã biết sử dụng điểm cao để lập đồn trú). Hơn nữa quá trình xây dựng Tam Đảo được người Pháp đúc kết từ bài học kinh nghiệm trong tổ chức quy hoạch, xây dựng, kiến trúc các khu nghỉ ở Đà Lạt, Sa Pa,… Chẳng vì thế khi các hạng mục hạ tầng cơ bản hoàn thiện, thời đó người Pháp đã ví Tam Đảo với mỹ tự Hòn ngọc viễn đông. Sau này Tam Đảo bị tiêu thổ trong kháng chiến chống Pháp (khoảng 1947-1949); nay chỉ còn lưu lại ít ỏi thông tin qua tài liệu, hình ảnh cùng một số dấu tích bị chôn vùi dưới những lớp cỏ cây và sương mờ.
Xem tư liệu xưa cũng là dịp ôn cũ, biết mới. Hy vọng trong tương lai gần, Tam Đảo được quy hoạch, xây dựng theo phương châm Xanh - Sạch - Đẹp và phát triển bền vững trong lòng của núi rừng Tây Thiên - Tam Đảo kỳ vĩ. Xứng đáng là Di sản thiên nhiên, điểm đến lý tưởng cho du khách trong nước và nước ngoài khi mỗi lần ghé thăm Vĩnh Phúc.








Con Nghê - linh vật thuần Việt

Hai linh vật đặc thù của văn hóa Việt Nam là chim hạc và con nghê, thế nhưng trong khoảng trăm năm gần đây, ta thường thấy rồng và lân được dùng trang trí trong các đền chùa, dinh thự lớn. Như tượng hai con lân trắng ở ngay trước sân chùa Vĩnh Nghiêm, Sài Gòn chẳng hạn. Những ngôi nhà lớn của người Việt ở hải ngoại hay ở trong nước cũng trang trí bằng tượng con lân.
Chim hạc là linh vật từ thời các vua Hùng dựng nên nước Văn Lang ta, vậy con nghê xuất hiện từ bao giờ ? Phải chăng từ đời Lý, khi nền văn hóa thuần Việt được phục hồi và phát triển sau một ngàn năm Bắc Thuộc ?


Con Nghê là gì?
Trong đời sống của người dân Việt, hai con thú được coi như những người bạn thân thiết, gần gũi và quan trọng nhất là con trâu và con chó. Trâu để cầy ruộng, giúp sản xuất lúa gạo, chó để giữ nhà, phòng kẻ gian, phòng thú dữ. Đời sống thực tế có chó giữ nhà, còn đời sống tinh thần thì sao? Ông cha ta cũng cần một linh vật để chống lại các tà ma ác quỷ nữa chứ.
Chó đá được dựng lên vì thế. Ở làng quê miền Bắc Việt Nam, trước cổng làng bao giờ cũng có một con chó đá để bảo vệ cả làng, trước cổng đình bao giờ cũng có chó đá, và trước cổng nhà hay ở ngoài đầu hồi, ngoài cửa nhà cũng thường có chó đá ngồi trước canh giữ cho gia chủ. Những con chó đá này hình dạng thay đổi, cao khoảng từ nửa thước tới một thước, thường là những tảng đá được khắc đẽo rõ ràng oai vệ, nhưng có khi chỉ là một khối đá đặt nghiêng theo dáng một con chó đang ở thế ngồi canh giữ.
Rồi để bầy chó đá hoá linh trước điện thờ, hay bàn thờ ở những nhà giàu có, ở các đình chùa đền miếu, chó đá được khắc đẽo với những chi tiết oai vệ, đầu chó, mặt chó đầy những nét uy nghiêm. Vì linh thiêng như thế, nên được gọi là con Nghê. Thủa nhỏ, vào khoảng đầu thập niên 1950 ở Thái Bình, còn thấy ở nhà cụ Hà Ngọc Huyền, ông ngoại chúng tôi có trưng tượng con Nghê cao gần một thước ngay lối vào phòng khách cùng với những bình, những chóe đời Khang Hy nhà Thanh, đời Minh… Con Nghê này không biết nay đã lưu lạc về đâu?
Tóm lại con Nghê là một linh vật được sáng tạo để bảo vệ đời sống tâm linh của người Việt. Con Nghê thường được thấy qua các món đồ gốm như:

Nậm rượu hình nghê
Vài hình tượng con Nghê tiêu biểu
1. Tượng con Nghê: Dựa trên nước men, mầu men, chất đất ta có thể định rằng đây là một tác phẩm đời Lý (thế kỷ 11 –12). Con Nghê này cao độ 36cm, bằng đất nung, phủ men nâu, nét tô đắp cực kỳ tinh xảo, con Nghê trông sống động, oai vệ, tưởng chừng như có thể phóng lên xua đuổi tà ma ngay tức khắc. Mặt Nghê ngắn. Mình Nghê thon dài, rất thanh tú. Cổ Nghê đeo dây lục lạc có tua, cổ ngửng thẳng. Lông trên sống lưng dựng đứng như một hàng kỳ, chạy suốt từ đỉnh đầu xuống đến đuôi. Chân Nghê thanh nhưng thẳng và mạnh, chân sau ở thế ngồi bắp thịt đùi trông rắn chắc mạnh mẽ, hai chân trước chống cao, chỗ đầu gối có lông xoắn cong. Mắt to, miệng lớn, mũi lớn, miệng Nghê hơi hé mở để lộ những răng nanh nhọn hoắt, như sẵn sàng xua đuổi tà ma. Tai Nghê lớn nhưng không dựng lên như tai chó. Lông Nghê mượt sát vào mình với những đường khắc, uốn từ sống lưng xuống phía bụng, trông như vằn chó.
2. Nậm rượu hình con Nghê: Chúng tôi xin đưa ra hình hai nậm rượu hình con Nghê, một mầu nâu, một mầu đen. Nghê với hình dáng và thế ngồi cũng như mô tả ở trên, tuy rằng các chi tiết không sắc sảo bằng. Nghê ngồi trên một bầu rượu có dáng trên tròn dưới ống. Mình Nghê rỗng, trên lưng Nghê có vòi loe để chuyên rượu vào (nắp đậy chỗ này không còn, cho nên ta không biết nắp cũng làm bằng đất sét nung hay bằng gỗ hoặc lá cuộn). Rượu được rót ra từ vòi dài đi từ thân nậm, tựa như cọc với dây xích buộc Nghê.
3. Bình trầm hương hình Nghê: Mầu men, nước men, chất đất, độ nung của các bình hương này cho thấy đây là các tác phẩm làm thời Chu Đậu (thế kỷ 16, 17, 18 ) chứ không phải đồ đời Lý hay đời Trần. Bình hương gồm hai phần, phần dưới là một hộp nhỏ hình chữ nhật. Đây là chỗ bỏ trầm vào đốt. Phần trên là nắp. Nắp là con Nghê ngồi trên một mặt phẳng đậy vừa kín phần dưới. Mình Nghê rỗng, khi đốt, trầm khói từ phần hộp phía dưới luồn trong mình Nghê rồi bay ra từ miệng Nghê đang hơi khẽ mở, trông rất oai nghiêm. Vì trầm được đốt trong hộp kín phía dưới mà chỉ có thể thoát khói ra khỏi miệng Nghê nên cháy rất chậm, vừa toả đủ khói hương để mang đầy vẻ linh thiêng mà vẫn cháy lâu cả buổi.
Phân biệt con Nghê và con Lân
Con Nghê là linh vật đặc biệt của văn hóa Việt Nam, con Lân thuộc văn hóa Trung Hoa. Về hình dạng, con Lân giống sư tử, đầu có 1 sừng, chân ngựa, mình tròn mập có vảy, đuôi ngắn, miệng ngậm quả cầu, hay ngồi chống chân lên quả cầu. Con Nghê có kỳ mà không có sừng, mình thon nhỏ, dáng thanh, đuôi dài, trông rõ ràng dáng chó. Một số bình hương, chân đèn gốm Việt Nam thời Chu Đậu làm vào khoảng thế kỷ 16, 17 cũng có hình con lân, nhìn vào thì thấy rõ ngay là con lân chứ không phải là con nghê. (Trong sách "Vietnamese ceramics - a separate tradition" của John Guy và John Stevensen soạn, có nhiều hình bình hương trầm với con nghê nhưng đồng thời lại có hình con lân mà ghi chú nhầm là con nghê).

Tượng con Lân
Thời thịnh đạt của Con Nghê
Trong những thế kỷ Bắc Thuộc khi người Trung Hoa làm đủ mọi cách để hủy diệt văn hoá Việt Nam, như: tịch thu, hủy diệt và cấm làm trống đồng, bắt người Việt đổi theo họ Tầu (vì thế những họ cổ Việt Nam như họ Trưng (Trưng Trắc)… không còn nữa….), thì không biết ông cha ta có làm hình tượng chó đá và con Nghê không? Quan sát cách sinh hoạt của người Thượng trên các miền cao nguyên, ta thấy rằng con chó vẫn là con vật rất quan trọng của đời sống thôn dã. Vậy thì ai có thể quả quyết rằng, chó đá, con Nghê không được phát sinh từ thời xa xưa? Tuy nhiên chúng tôi cũng chưa có dịp may được thấy các hình ảnh hay vật tích hình con Nghê của thời đại cổ xưa này. Ước rằng có người với những phương tiện đầy đủ sẽ làm các việc khai quật nghiên cứu và tìm ra di tích con Nghê từ thời xa xưa.
Khi Đinh Bộ Lĩnh dành lại nền tự chủ cho nước Việt, nhà Lý, nhà Trần, rồi nhà Lê nối ngôi dựng lại nền văn hóa thuần Việt phong phú cùng văn học, xã hội, chính trị, nghệ thuật tạo hình của người Việt phát triển rực rỡ.
Trong bối cảnh văn hoá ấy, với sự nẩy nở của những nghệ phẩm, tác phẩm Việt Nam, sự phát triển của kiến trúc đình chùa, sự phát triển của giới quý tộc, trưởng giả càng đòi hỏi nhiều hơn nữa những phẩm vật tế tự, sinh hoạt và trưng bày. Khung cảnh và nhu cầu này đưa đến biết bao phát triển của nghệ thuật tạo hình. Nhu cầu tinh thần, nhu cầu vật chất được đáp ứng bởi bàn tay, khối óc của các nghệ nhân Việt lúc nào cũng xông xáo sáng tạo. Biết bao kiến trúc, cung điện, đình chùa với mái cong thuần túy Việt được dựng lên. Đồ gốm Việt Nam bừng lên tổng hợp kỹ thuật và sắc men Trung Hoa với dạng thức, nét vẽ, và phong cách hoàn toàn Việt Nam. Từ đây những bình, ấm, tô, chén, đĩa… những món đồ Lý Trắng, Lý Nâu, Lý Lục, Lý Đen, những món đồ men ngọc, chuyển qua những món men trắng hoa chàm của đời Trần, đời Lê tuyệt vời, được sản xuất mạnh mẽ. Rồi tiếp theo đó, sang thế kỷ 16, 17, 18 là thời của gốm Chu Đậu, thời tuyệt đỉnh của đồ gốm Việt Nam, với biết bao phẩm vật xuất cảng sang vùng Ba Tư, Nam Dương, Phi Luật Tân, Nhật Bản….
Dựa trên số lượng và phẩm tính của những con Nghê trong các viện bảo tàng và bộ sưu tập của các tư nhân, ta thấy rằng thời thịnh đạt nhất của con Nghê là từ đời Lý cho đến cuối đời Tây Sơn (thế kỷ 11 đến thế kỷ 18). Suốt từ đời Lý, Con Nghê được trọng dụng ở khắp mọi nơi, từ những ngôi nhà dân dã, từ cung đình, cho đến lâu đài, đình chùa, lăng miếu… Đến cuối đời Lê, loạn Trịnh Nguyễn phân tranh, đất nước đi vào 300 năm khói lửa, nhưng không vì thế mà văn hoá Việt điêu tàn mà trái lại càng phát triển mạnh thêm về mọi mặt (thơ văn, kiến trúc, khắc gỗ, gốm sứ …). Trong suốt 8 thế kỷ này, các bình hương trầm, các nậm rượu, và các tượng hình con Nghê là những món không thể thiếu ở nơi tế tự, ở các nhà trưởng giả cho đến nhà bình dân.

Tượng Nghê cổ
Thời suy tàn của con Nghê
Khi Nguyễn Ánh thống nhất sơn hà, triều đình nhà Nguyễn - có lẽ do mặc cảm, do lòng thù ghét các dấu vết văn hóa của đất Bắc, của nhà Trịnh, nhà Tây Sơn - đã quay lưng lại văn hóa Việt Nam mà ưa chuộng văn hóa Trung Hoa. Thế nên, con rồng Việt Nam uyển chuyển của đời Lý Trần Lê, đã bị thay bằng con rồng Tầu thân mập vẩy to, mặt ngắn. Thế nên, thành Thăng Long bị phá đi xây lại nhỏ hơn và biết bao cung điện đời trước (còn lại sau những năm dài chinh chiến) đã bị nhà Nguyễn cho phá đi. Thế nên, trong dù đang chật vật cạnh tranh với đồ gốm Tầu trên thị trường quốc tế, cả một kỹ nghệ đồ gốm Việt nam đã không được triều đình nâng đỡ. Thay vào đó, các món đồ dùng trong cung đình Huế thì được đặt làm từ các lò gốm ở bên Tầu. Thế nên, cả làng Chu Đậu (Hải Dương) phải bỏ nghề gốm mà chuyển qua nghề dệt chiếu (một số nhỏ đã dọn đến Bát Tràng tiếp tục nghề cũ, trong phạm vi rất nhỏ hẹp so với Chu Đậu). Trong các cung điện ở Huế, con Nghê không được dùng, vì đã bị con Lân của Tầu thay thế. Các lư trầm bằng đồng với hình tượng con Lân trên nắp trở nên phổ thông. Các nhà trưởng giả đua theo triều đình chuộng các linh tượng Trung Hoa. Kỹ nghệ đồ gốm tàn lụi, con Nghê chỉ còn sót lại trong những bàn thờ cổ ở chốn thôn dã. Hãy đi đến các ngôi chùa, các kiến trúc ở Việt Nam làm từ thế kỷ 19, ta thấy ngay rằng, con rồng Việt đã biến đổi, con Nghê đã bị thay bằng con Lân, chim Hạc chỉ còn là biểu tượng xưa cũ.
Thương thay, các biểu tượng thuần Việt, các nét tạo hình thuần Việt không còn được người Việt biết đến nữa.
Lâu nay, khi đi qua cửa các nhà giàu có ở Hoa Kỳ, ta vẫn thấy chủ nhà hãnh diện bầy hai con Lân hai bên cửa, cứ như là chùa Tầu. Ở các lò gốm bên Việt Nam, ở Non Nước, Đà Nẵng-Hội An, các nhà khắc chạm cẩm thạch, đâu đâu cũng chỉ sản xuất toàn con Lân mà không có con Nghê. Buồn thay! Chúng tôi ước ao rằng các nhà làm đồ gốm Việt Nam sẽ làm lại tượng con Nghê, bình hương trầm con Nghê để tất cả chúng ta còn hãnh diện nối theo dòng văn hóa Việt Nam của ông cha thủa trước.




Thứ Sáu, 7 tháng 8, 2009


ĐÌNH THỔ TANG


Đình làng Thổ Tang thuộc huyện Vĩnh Tường được tạo dựng từ thế kỷ XVII. Trải qua bao thời gian ngày nay đình còn bảo lưu được tương đối nguyên vẹn kiểu thức kiến trúc thời Hậu Lê.
Đình thờ vị danh tướng Lân Hổ, một người có công đánh giặc Nguyên Mông ở thế kỷ XIII. Tương truyền, theo lệnh Vua Trần, Lân Hổ đã dẫn quân lên vùng Gia Ninh (nay thuộc tỉnh Phú Thọ) lập phòng tuyến, bày binh bố trận, chỉ huy quân sĩ chiến đấu bảo vệ kinh đô Thăng Long. Hiện nay suốt một dải từ Dục Mỹ- Sơn Vi (Phú Thọ) đến Vĩnh Tường - Yên Lạc (Vĩnh Phúc) đều có di tích thờ tướng Lân Hổ trong đó đình Thổ Tang là trung tâm để tổ chức lễ hội cùng những trò diễn, hèm tục tưởng niệm về vị tướng tài và cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm bảo vệ đất nước của dân tộc ta thời Trần.
Đình Thổ Tang được xây dựng với quy mô đồ sộ, gồm hai toà kiến trúc bố cục theo hình chữ "đinh". Hiện còn lưu giữ được 21 bức chạm khắc gỗ hết sức tinh tế, được thể hiện trên các thành phần kiến trúc: Thân kẻ, thân bẩy, thân rường, nội dung phong phú, khái quát về chu trình: lao động - làm ăn - hưởng thụ của cư dân nông nghiệp, của nhân dân ta thời Lê Trung Hưng. Các bức chạm ở đây được sắp xếp thứ tự theo chu trình đó. Bước vào cửa đình thì thấy ngay bức chạm đầu tiên là "ngày hội xuống đồng" (lễ tịch điền) rồi lần lượt đến các bức "bắn thú dữ" để bảo vệ mùa màng, thôn xóm. Cảnh vui chơi giải trí có: "đá cầu", "chơi cờ", "uống rượu", "người múa". Cảnh sinh hoạt gia đình có: "trai gái tình tự", "gia đình hạnh phúc". Phê phán những thói hư tật xấu có: "đánh ghen", "vợ chồng lười". Trang trí thờ phụng gồm các bức: "cửu long tranh châu", "bát tiên quá hải" và nhiều hình rồng, phượng khác. Đình làng Thổ Tang là một trong những ngôi đình đạt đến đỉnh cao về mỹ thuật điêu khắc gỗ cổ dân gian thời Hậu Lê, là di tích được xếp hạng quốc gia sớm nhất ở Vĩnh Phúc

Thứ Năm, 6 tháng 8, 2009


Bà ngoại (Anh Ngọc)

Chiều nay
Những cơn gió ghé qua đón bà về phía núi
Dáng lưng còng chống cây gậy trúc
Bỏm bẻm nhai miếng trầu cay
Bà đi rồi
Nắng nhạt nhòa mây lưng thững buông trôi
Gió gợn thổi vương nỗi buồn khóe mắt
Về bên kia bà mang theo lời ru câu chuyện cổ
Đã từng kể cháu nghe
Giữa trưa hè, trong tiếng ve đưa nôi
Nay bà dần khuất núi
Nỗi nhớ nhòa lễ rơi.



NHÓM ĐỀ TÀI TRANG TRÍ TRANG TRÍ TRÊN
THÁP BÌNH SƠN
Nguyễn Anh Ngọc

Nằm trong kiến trúc chùa Vĩnh Khánh, Tháp Bình Sơn mang trong mình những minh triết Phật giáo tựa đẹp đoá sen hồng toả hương thu hút nhiều nhà nghiên cứu như Bercier, Chu Quang Trứ, Bùi Đăng Sinh, Nguyễn Quý Đôn, Tạ Huy Đức,…tìm hiểu, viết công bố trên sách, báo. Tuy nhiên trong nghiên cứu, các tác giả phần lớn đi vào khía cạnh lịch sử, tôn giáo, kiến trúc, kỹ thuật xây dựng,…mà ít đề cập đến mảng mỹ thuật trang trí, một mảng đóng vai trò quan trọng về mặt diễn tả hình thức tín ngưỡng, hay nói đúng hơn đó là phạm trù chuyển tải cô đọng những triết lý “sắc sắc, không không” của Đạo Phật tới du khách lên chùa lễ phật hay thưởng lãm cảnh bụt. Bởi nếu coi tháp Bình Sơn là một công trình kiến trúc tuyệt tác được kiến tạo bằng đất nung, thì mảng mỹ thuật là sự cô đọng những đề tài trang trí Phật giáo đặc sắc được thể hiện bằng đôi bàn tay tài hoa của những người thợ gốm thời Trần trên đất Vĩnh Phúc.
Chẳng vì thế mà cái đẹp nâu trầm cổ kính của cây tháp Phật đã đi vào tâm hồn thi sỹ để toát lên qua câu ca như vừa tiếc nuối, mời gọi:
“Hỡi ai qua bến đò Then
Dừng chân mà ngắm tháp tiên bên đường”
Dừng chân ngắm tháp, du khách tìm về vẻ đẹp ngót ngàn năm tuổi qua mảng gốm hồng mộc mạc, ấm áp, chuyển tải cô đọng tính thiền của đạo Phật qua mảng đề trang trí như hoa sen, lá đề, hoa cúc, rồng, sư tử,…được trình bày trên khắp mặt phẳng, lồi, lõm của kiến trúc bằng lối thể hiện đồ án cân xứng, đường nét mềm mại, nhịp điệu giữa mảng khối tạo nên cho mỗi nội dung của mảng nghệ thuật độc đáo, đặc sắc và sinh động; mang dụng ý của nhà thiết kế kiến trúc nhiều hơn là sự trang trí ngẫu hứng, chính vì thế mà giữa hai mảng kiến trúc và mỹ thuật ở tháp Bình Sơn đã được phối hợp chặt chẽ tạo nên tính đồng bộ, mềm mại hơn cho kiến trúc tháp vốn từ chất liệu đất nung mộc mạc.
Cảm nhận ý nghĩa nhóm đề tài mỹ thuật mà người xưa gửi tới hôm nay tựa giống như tìm nghĩa một thông điệp hay sự giải mã ngôn ngữ tạo hình qua mảng khối không chỉ đơn thuần giữ vai trò trang trí làm sang cho kiến trúc mà còn chứa cả ý niệm của người xưa thâm trầm, sâu lắng của thiền học qua tám đề tài trang trí (bệ tháp, khám thờ và các tầng tháp) như sau:
Hình sư tử: Được các nghệ sỹ gốm thời Trần thể hiện trên đường diềm trang trí quanh đế tháp với lối bố cục mảng khối khoẻ, nhịp điệu. Theo quan niệm dân gian sư tử còn được gọi là ông sấm mang biểu tượng của sức mạnh, trí tuệ bảo vệ nơi Phật pháp; nét chung của mô típ sư tử là mặt thuôn, thân dài, đuôi mượt,..và mỗi con trong một tư thế vờn cầu khoẻ mạnh, sinh động tựa như chúng vừa hoá thân vào gốm để tồn tại vĩnh hằng cùng thời gian.
Hoa cúc dây: mang biểu trưng của mặt trời (dương) nhưng ẩn chứa hình ảnh của tu sỹ, tăng, ni được trình bày theo dải băng dài trên bệ tháp và các vị trí tiếp nối giữa các tầng tạo nên nét mềm mại, uyển chuyển cho kiến trúc. Đồ án hoa cúc dây được bố cục lượn hình sin nhịp nhàng với cành lá và hoa đan xen nhưng thể hiện được sự cách điệu đơn giản, các cánh hoa tỉa nhỏ, xếp tròn mềm mại, gợi cho người xem một tâm linh siêu thoát nhẹ nhàng nơi cửa Phật.
Hoa sen: Một loài hoa thanh tao, tinh khiết mang biểu tượng của đức Phật Thích Ca và giáo lý được cách điệu thành hai lớp bố cục tạo nên đế tháp chắc khoẻ nhưng thanh thoát hướng theo cùng phong cách bay bổng của kiến trúc. Lớp trên cánh sen ngửa, lớp dưới cánh sen úp, dáng cánh to, nhọn, diềm cánh có các hình móc xoắn toả sang hai bên, lòng cánh có các chấm tròn tựa như những hạt sương long lanh huyền ảo. Qua đó có thể thấy, bằng sự kết hợp khéo léo giữa nghệ thuật và kiến trúc, nhà thiết kế đã gợi cho người xem một ấn tượng gợi cảm như cây tháp mọc trên toà sen nở rộ. Mô típ kiến trúc gần giống với cây tháp sứ mô hình thờ ở chùa Chò xã Yên Phương, Yên Lạc (hiện đang trưng bày tại Bảo tàng tỉnh).
Như vậy có thể thấy rằng, trên cùng nhóm hoạ tiết trang trí, hoa cúc (dương) và hoa sen (âm) lại mang phảng phất sự kế thừa nghệ thuật trang trí thời Lý mà ở chúng đều mang tính mỹ cảm và biểu tượng của cặp phạm trù trong triết lý âm dương tạo nên sự cân bằng, hoà hợp là sự ước vọng của người nghệ sỹ năm xưa muốn gửi gắm, mong cầu hạnh phúc tời mưôn người.
Hoa văn hình học: được bố cục dày đặc trên đường diềm đế tháp với bố cục hình chám nổi. trong mỗi hình trám có khắc nổi hình bầu dục, xung quanh điểm các dấu móc hỏi “?” và mây cách điệu hình khách. Sự kết hợp nhuần nhuyễn trong nghệ thuật tạo hình bằng khối óc tư duy đầy sức sáng tạo đã gợi cho người xem không nhàm chán trước những hoạ tiết đơn điệu, góc cạnh.
Hình con rồng: Là một trong những môtíp nghệ thuật trang trí phổ biến dưới thời phong kiến nước ta, nó được gán với sức mạnh vũ trụ mưa thuận gió hoà và quyền uy của vương triều. Trên tháp Bình Sơn, đồ án rồng được trang trí nổi trong vòng tròn đồng tâm hai bên cửa khám thờ (theo một số tài liệu khám dung để đặt tượng Phật) rồng mang nét đặc trưng thời Trần như đầu to, mào lửa mập, thân rồng cuộn tròn lượn hình song nước, bộ vây lưng nhỏ, chân trước đưa lên vuốt tóc, ngắm chúng thật ung dung ngộ nghĩnh. Hình rồng trang trí ở tháp Bình Sơn là rồng có sừng và cuộn tròn mình, đầu rúc vào giữa, chân đạp ra ngoài, sống lưng có vây như răng cưa, một chân trước đưa lên vuốt tóc.
Hoa văn song nước: trên tháp Bình Sơn có dạng hình núi phảng phất sự kế thừa nghệ thuật trang trí ở cuối thời Lý, như chân song choãi, ngọn song thuôn dần từ dưới lên trên, long ngọn song tạo lõm, lớp lớp kế tiếp nhau đều đặn, nhịp điệu.
Hình tháp nhỏ (tháp Bồ Tát): được bố cục trong hình vuông trang trí dày đặc trên các tầng tháp, thoạt trông ta cứ ngỡ là sự ngẫu nhiên trong trang trí, nhưng đó là triết lý luân hồi của đạo Phật, theo phạm trù âm dương hình tháp được bố cục trong ô vuông như gợi tín ngưỡng phồn thực của người Việt xưa, xung quanh hình tháp có các tia hào quang toả xếp tròn, lớp trong nhỏ và dấn lớn ra phía ngoài.
Lá đề: Là một trong những hoạ tiết trang trí phổ biến trên tháp Bình Sơn. Hình lá đề gợi nhớ cho người xem cảm nhận về cội bồ đề nơi Phật Thích Ca đắc đạođược các nhà thiết kế cách điệu từ quầng lửa sang đầu thường gặp trong các đồ án trang trí thời Lý với phần thân dưới rộng búp dần phề phía ngọn. Trong mỗi lá đề lại điểm đan xen các mảnh ngọc bội và sừng tê đặt đối ngẫu, phía dưới có hình hoa lá cách điệu đơn giản mà vẫn gợi cho người xem cảm nhận được.
Từ ngôn ngữ tạo hình, chúng có thể thấy tám nhóm đề tài trang trí Phật giáo trên tháp Bình Sơn đã chuyển tải cô đọng những triết lý luân thường của Đạo Phật, mà ở đó người nghệ sỹ năm xưa muốn gợi mở cho người xem suy tưởng khác nhau về con đường bát chính đạo (chính ngữ, chính nghiệp, chính mệnh, chính niệm, chính định, chính kiến, chính tư duy, chính tịnh tiến) như lắng sâu trong sự trầm tĩnh của tính thiền để dần toát lên qua mảng gốm thô mộc đang chuyển tải thông điệp của xưa tới hôm nay, góp phần làm phong phú về mặt tư liệu cho kho tàng mỹ thuật Việt Nam. Chính vì vậy, tháp Bình Sơn đã được Nhà nước xếp hạng dic tích quốc gia nhằm bảo tồn lâu dài các giá trị kiến trức, mỹ thuật phục vụ công tác nghiên cứu và du lịch.


Sắc xuân trong tranh Tết


Chơi tranh tết đã trở thành phong tục, một nét đẹp truyền thống giàu tính thẩm mỹ, nhân văn của người Việt xưa. Để đón xuân về người ta dọn dẹp lại nhà cửa, đánh lại bộ lư đồng, tỉa bớt chân nhang, thếp lại đôi câu đối, gỡ tranh cũ xuống, treo tranh mới lên với hàm ý Tống cựu, nghinh tân. Đề tài trong tranh tết phong phú, cô đọng phản ánh những hình ảnh gần gũi thân quen trong sinh hoạt thường nhật của người dân lao động được người hoạ sỹ nắm bắt được cái hồn, cái cảnh để đưa vào hoạt tả sống động trong tranh bằng những sắc màu hồn nhiên, tươi sáng, nhưng rất đỗi bình dị, giàu thẩm mỹ, triết lý xã hội và ý nghĩa nhân văn của dân tộc ta. Tranh tết có nhiều loại, dùng cho cả người lớn và trẻ em với mục đích như: Tranh thờ, tranh cầu lộc, tranh xã hội, tranh lịch sử, là những chủ đề đa dạng thoả mãn đồng thời nhu cầu, sở thích của người dân. Để cầu mong năm mới được sung túc, thịnh vượng, tài lộc vào nhà người ta ưa treo bức tranh đôi ông Tiến tài, Tiến lộc là hai vị thần mang sắc phục kiểu quan văn, khuôn mặt hồng hiền từ, tay cầm bảo khí, trên hai bức tranh đề chữ Lộc vị cao tăng,"Tài hằng nguyên khí”. Với mong muốn gia đình được bình an có tranh thần bảo hộ Vũ Đinh và Thiên ất, hình vẽ hai vị mặc áo giáp, tay cầm long đao, khuôn mặt dữ tợn thường được dán ngoài cửa để trấn giữ, xua đuổi tà ma. Ngụ ý được dồi dào sức khoẻ để làm việc quanh năm, người ta treo bức Gà đại cát với sắc màu sặc sỡ, oai vệ, mang biểu tượng của chữ tín là người bạn của dân quê nó báo thức mọi người dậy đúng giờ, đúng khắc để lo chuyện làm ăn. Tranh mẹ con đàn gà, mẹ con đàn lợn âm dương đông vui, quây quần là hình tượng hoá cuộc sống dân dã vùng thôn quê cùng ước mơ gia đình đông con nhiều cháu nhưng hoà thuận, xum vầy. Với mong muốn trong nhà luôn có niềm vui và sự thanh nhàn, người lớn thường treo tranh tứ bình (4 bức) như: Xuân - Hạ - Thu - Đông; Tố nữ; Canh nông chi đồ, là những hình vẽ về cảnh sắc thiên nhiên bốn mùa, vẻ đẹp thanh lịch, tài hoa của các bậc giai nhân, ca kỹ xưa kia, cùng hoạt cảnh đồng quê thanh bình,... đã mang lại niềm vui, sức sống mới cho muôn nhà. Tranh nhị bình (2 bức) vẽ hai bức Cá chép và Chim công thường được treo đối hai bên bàn thờ, một vật tượng trưng cho vẻ đẹp mỹ miều, một tượng trưng cho sự sinh sôi nảy nở, âu cũng là ước vọng của bao gia đình về một năm mới vẹn toàn. Để khuyến khích trẻ em trong nhà học hành tiến tới và hy vọng chúng sẽ thành đạt, mọi nhà thường ưa treo tranh Vinh hoa (em bé tóc trái đào ôm gà trống), Phú quý (em bé ôm vịt), Nhân lễ (em bé ôm cóc), Trí tín (em bé ôm rùa), Thầy đồ cóc (vẽ hoạt cảnh của trường học xưa), Trạng chuột vinh qui (vẽ cảnh rước trạng vinh qui bái tổ), là những hình vẽ ngộ nghĩnh, hồn nhiên, vui nhộn cùng những lời chú thích giàu tính giáo huấn trẻ em những đạo đức tất yếu bước vào cuộc sống. Với những tranh tết mang tiếng cười trào lộng như : Đu xuân, Hứng dừa, Bịt mắt bắt dê, Đấu vật, Bắt chạch trong chum, là những hoạt cảnh hội hè, đình đám, trai gái tình tứ, sự hóm hỉnh trong tranh đem lại tiếng cười sảng khoái cho ngôi nhà ngày xuân thêm nồng ấm. Nếu như hình để chuyển tải cái hồn, cái ý của nhân vật, sự diễn tả nội dung chủ đề thì sắc màu trong tranh tết là điểm nhấn mềm mại cho mảng khối, bố cục bằng những sắc màu tự nhiên xanh (lá trầu), đỏ (đất son), vàng (hoa hoè), trắng (sò),được hoà sắc lấp lánh trên giấy điệp tạo nên sắc thái ngoạn mục cho bức tranh lắng sâu hồn dân tộc. Người ta ngắm tranh mà nhớ lại năm qua và hình dung những gì sẽ gặp và làm trong năm mới, cầu điều tốt lành cho mình, chúc điều tốt lành cho người khác là nếp ứng xử giàu tính nhân văn của người Việt xưa, mà tranh tết chính là hình tượng hoá lời chúc tụng liên liên hữu dư tới mọi người.

NHỮNG CÂU ĐỐI CỔ VỀ DÃY NÚI TAM ĐẢO
Nguyễn Anh Thập
Năm 2007 tôi được Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Vĩnh Phúc mời đi dự trại sáng tác: Văn học, mỹ thuật khu vực phía Bắc do Liên hiệp các hội văn học nghệ thuật Việt Nam tổ chức tại Đồng Mô tỉnh Hà Tây (cũ).Trong trại sáng tác có hơn hai mươi hội viên đủ các chuyên ngành văn, thơ, hoạ. Nhưng người có ấn tượng với tôi nhất là anh Đàm Thế Dư, Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Thái Nguyên quê ở Đồng Hỷ (Thái Nguyên). Duyên kỳ ngộ những ngày đi dã ngoại anh Đàm Thế Dự có mời tôi về chơi nhà ở Đồng Hỷ, chưa kịp uống nước chè Thái, thì anh vội vàng lấy ra một tập câu đối chữ Hán cổ không biết từ bao giờ trong đó có ba câu mà tôi tâm đắc nhất liên quan đến núi Tam Đảo đại ngàn, thiên nhiên hùng vĩ. Câu đối có nội dung như sau.Câu thứ nhất:“Tam Đảo phong thanh khai đạo mạchCổ giang thuỷ bích dẫn văn lan”.Tạm dịch:“Tam Đảo ngàn xanh mở mang mạch đạoSông xưa nước biếc dẫn dòng văn thơm”.Câu thứ hai:“Vạn cổ linh quang, kiều viễn ảnhNhất phương ấm tỷ nhà hoàng lưu”.Tạm dịch:“Linh thiêng sáng rực từ xa muôn đời còn rõ nétMột phương được phúc ấm chở che, dân đón nhận ơn sâu”.Câu thứ ba:“Ký sóc cựu an Hồng nhạn tạoChiêu tôn cảnh ngưỡng Lạc Long tiên”.Tạm dịch:“Mơ ước ngàn năm thuỷ chung như chim Hồng nhạnCon cháu vui mừng ngưỡng mộ cảnh đẹp rồng tiên”.Thật vậy: Núi rừng Tam Đảo đẹp, linh thiêng, và thơ mộng là thế. Vạn cổ linh quanh kiều viễn ảnh. Nếu chúng ta suy ngẫm và trở về quá khứ từ muôn đời xa xưa không biết Tam Đảo có từ bao giờ, theo các nhà khoa học ước tính núi Tam Đảo cách ngày nay vào khoảng 160 triệu năm, chiều dài 80 km, chiều rộng từ 10 đến 15km, có diện tích 36.883ha thuộc địa phận của 3 tỉnh Vĩnh Phúc - Thái Nguyên và Tuyên Quang. Ngọn cao nhất của dãy núi Tam Đảo là 1.592m. Vì thế có tác động không nhỏ đến việc hình thành các tiểu vùng khí hậu cho khu vực đồng bằng chung quanh chân núi Tam Đảo, thập phương hội chủ. Hội tụ ở nhiều nơi trên địa bàn trải rộng ở cả 3 tỉnh. Tham gia điều tiết nước và môi sinh cho vùng đồng bằng trung du Bắc Bộ và thủ đô Hà Nội. Tam Đảo cũng là vùng rừng đầu nguồn của hai hệ thống sông đó là: sông Đáy và sông Công. Chính vì vậy vai trò quan trọng đối với việc điều tiết khí hậu, nên Tam Đảo được các nhà khoa học nghiên cứu về thiên nhiên gọi là mái nhà của đồng bằng Bắc Bộ. Hay Tam Đảo linh sơn, núi cao và linh thiêng bậc nhất của cả nước. Không những thắng cảnh về thiên nhiên hùng vĩ mà còn là nơi phát tích của các vị thần thánh. Nữ thần núi: Bà chúa Thượng ngàn, Quốc Mẫu Tây Thiên Lăng Thị Tiêu, bà Đào Liễu thân mẫu của Lăng Thị Tiêu Tây Thiên Quốc Mẫu.Ngày nay rừng núi Tây Thiên còn có Thiền Viện Trúc Lâm, một công trình kiến trúc đồ sộ, to đẹp và hoành tráng, hài hoà giữa nét chùa cổ xưa kết hợp với kiến trúc hiện đại của nền văn hoá phật giáo.Việt Nam, hợp thành một quần thể di tích uy nghi, tráng lệ, một khu du lịch hấp dẫn của đông đảo khách thập phương hàng năm đến tế lễ, thờ cúng và ngưỡng mộ cảnh sơn kỳ thuỷ tú. Phải chăng chính nơi này: “Đạo mạch linh thiêng”. Đầu thế kỷ XVIII nhà Sử học Lê Quý Đôn đã phát hiện núi Tam Đảo khu vực Tây Thiên: Cây cối rậm rạp, núi cao chót vót, thác ghềnh không biết bao mà kể, dưới chân núi có sông, suối sắc nước như chàm, sâu thẳm không trông thấy đáy, chân núi, đỉnh núi có chùa cảnh sắc thanh nhã, có suối bạc phát nguyên từ khe đá đỉnh núi chảy xuống trông như tấm lụa.Năm 1889 ở cuối thế kỷ XIX người Pháp đô hộ cũng đặt chân đến Tam Đảo, khảo sát nghiên cứu thiên nhiên, nhiệt độ ôn hoà, khí hậu mát mẻ đã cho thiết kế, xây dựng hàng trăm biệt thự và xây dựng thị trấn Tam Đảo làm nơi nghỉ mát, du lịch phục vụ bọn quan chức Tây - Đầm.“Tam Đảo cổ linh viễn ảnh” đất thiêng còn đó, sự tiềm ẩn của dãy núi Tam Đảo nhiều tiềm năng dồi dào về văn hoá tâm linh, văn hoá thiên nhiên và văn hoá du lịch trong tương lai của huyện Tam Đảo Vĩnh Phúc. Tam Đảo là thế, sông xưa nước biếc dẫn dòng văn thoi là như vậy, và cho đến hôm nay hai dòng sông Đáy và sông Công vẫn sâu thẳm không trông thấy đáy nước cũng đều bắt nguồn phát tích, khai mạch từ dãy núi Tam Đảo để ngàn năm con Lạc, cháu Hồng được phúc ấm chở che và mãi mãi ơn sâu như những câu đối của ông cha ta đã viết tự bao giờ.

CHO CHỮ XIN CHỮ ĐẦU XUÂN
Nguyễn Quý Đôn
Mấy năm gần đây, Vĩnh Phúc rất quan tâm, chú ý đến một phong tục đón xuân rất tao nhã, rất truyền thống, rất văn hoá của người Vĩnh Phúc, đó là phong tục “xin chữ” và “cho chữ” để treo cầu phúc và trang trí nhà cửa, phòng khách vào dịp tết Nguyên Đán.
Các bậc cựu nho có khả năng thư pháp được huy động tối đa trong những ngày này. Việc cho chữ tiến hành trong 4 ngày đầu xuân, triển lãm thư pháp cùng với Hội Báo xuân, tiếp tục cho chữ vào ngày thơ Việt Nam - Nguyên Tiêu - 15 tháng Giêng âm lịch.
Các ông đồ đều áo the, khăn xếp đứng lom khom cho chữ 5 giờ liền, không nghĩ tới giải lao và công xá, chỉ làm sao viết được nhiều, được đẹp và chính xác, đáp ứng trọn vẹn ý và tình của người hâm mộ, là thấy lòng vui sướng, mãn nguyện lắm rồi. Mực Quế Lâm Hoàng Xương Điển, giấy gió làng Hồ chính hiệu, được Trung tâm văn hoá và Hội Văn học Nghệ thuật cung cấp, thả sức cho các vị lão nho “vung bút”, những người yêu chuộng văn hoá cổ truyền đề đạt yêu cầu, hân hoan tiếp nhận tờ giấy có chữ thánh hiền.
Thứ chữ có từ thời Phục Hy, Thần Nông, do Thương Hiệt sáng tạo, được gọi là chữ Hán. Sáu nguyên tắc đặt ra chữ, gọi là Lục thư. Một là dựa theo hình dáng sự vật mà đặt chữ (tượng hình). Hai là theo động tác của con người mà chỉ sự. Ba là gộp nhiều ý mà đặt chữ mới (hội ý). Bốn là lấy thanh âm của bộ phận chữ bên phải, rồi dùng bộ phận chữ bên trái chỉ nghĩa để đặt chữ mới (hài thanh). Năm là lấy một chữ có nghĩa đen, đặt thành nghĩa phái sinh (chuyển chú). Sáu là căn cứ vào một chữ có sẵn, đọc chệch đi, làm thành nghĩa khác như hành đổi thành hạnh hoặc hàng, mà tự dạng không thay đổi (giả tá).
Do đó, chữ nho rất thâm (sâu) và uyên (rộng lớn), dùng hai ba chữ đã thâu tóm nội dung hai ba trang giấy viết bằng tự mẫu La Tinh. Cho nên, viết thư pháp tiếng Việt là điều ngộ nhận, chỉ khuyến khích trong việc trang trí ở chừng mực nào đó, để khỏi thành chữ như gà bới. Gặp trường hợp chữ cùng âm như ba, bà, bả, bã, bạ, tiếng Việt không tìm ra cách viết khác nhau, nhưng chữ Nho lại quá dễ dàng, nội dung có khả năng dồn chứa, nghệ thuật thể hiện bằng nét viết tinh hoa.
ít lâu nay, thế hệ trẻ thường thích xin Một chữ. Họ bị các nhà sản xuất lôi cuốn làm theo. Các cửa hàng mỹ nghệ bày bán chữ “Phúc”, “Lộc”, “Thọ”, “Tâm”, “Nhẫn” rất đẹp và dễ thuộc, làm cho họ quên cả sở thích, cá tính của mình, cho là chuẩn mực rồi, cứ thế dập khuôn.
Họ quên rằng, nếu chỉ đơn độc một chữ “Phúc”, có thể suy ra thành “vô phúc”, nên phải cầu phúc. Một chữ “Lộc” thành “thất lộc”, nên lo sợ đói nghèo. Một chữ “Thọ” thành cầu an, ham sống sợ chết. Một chữ “Tâm” vì có sự canh cánh bên lòng, lương tâm dằn vặt, pháp luật truy cứu. Trong cơ quan mà treo chữ nhẫn, có khác gì bảo nhau thủ tiêu đấu tranh phê bình, coi chừng những đợt sóng ngầm, những thủ đoạn nịnh trên nẹt dưới, biểu hiện phe phái, đối nghịch, mất đoàn kết đó sao?
Thường thường dưới những chữ này, cổ nhân bình chú bằng cả bài thơ, hoặc một câu cho trọn vẹn ý nghĩa.
Các bạn thanh thiếu niên đang phấn đấu, thích chữ “Việt”, chữ “Thành”, chữ “đạt”, chữ “đắc”. “Việt” có nghĩa là “Vượt”, có thể vượt mọi khó khăn, cũng có thể là “leo tường khoét vách”, bỏ nhà theo tiếng gọi tình yêu. “Thành” có nghĩa là nên việc, nhưng việc lại có cả việc tốt lẫn việc xấu. “Đạt” là thoả mãn yêu cầu; nhưng chẳng phải yêu cầu nào cũng đúng đắn. “Đắc” là được, không loại trừ đánh bạc được món to!
Bởi vậy, để tránh hiểu sai, hiểu lầm, tránh bị suy diễn, xuyên tạc, người cho chữ và người xin chữ nên sử dụng các câu viết truyền thống, đã có hàng thế kỷ, được nhân dân ta tiếp nhận:
Vạn sự như ý: Mọi nguyện vọng, mơ ước sẽ thành sự thật.Vạn sự hanh thông: Điều mong muốn sẽ không vấp phải sự trắc trở nào, hiển nhiên thành sự thật.Vạn sự cát tường: Điều không may cũng hoá nên điều may mắn.Tuế tuế bình an: Mãi mãi yên vui, không đau thương, mất mát.Cung hạ tân hỷ: Trân trọng chúc mừng niềm vui mới.Cung chúc tân niên: Đón chào năm mới.Ngũ phúc lâm môn: Năm điều hạnh phúc là giàu, sang, mạnh khoẻ, sống lâu, yên ổn sẽ đến nhà.Tam Dương khai thái: Ba điều lành mở ra thịnh đạt. (Phúc, Lộc, Thọ)Tống cựu nghinh tân: Đưa cũ, rước mới.Tống vãng nghinh lại: Đưa cái đã qua, đón cái đã tới.Cao đường vạn phúc: Bậc cha mẹ được muôn điều hạnh phúc.Nghênh xuân tiếp phúc: Đón xuân, nhận phúc.Phong điều vũ thuận: Gió thuận mưa hoà.Cung hỉ phát tài: Chúc mừng tài lộc nẩy nở.Bình an khang cát: Yên ổn, mạnh khoẻ, tốt lành.Niên niên dư túc: Thừa thãi luôn luôn.
Những lời cầu chúc kể trên là mơ ước, tiêu chí, mục đích rất chính đáng trong cuộc sống con người, gia đình và xã hội. Thiết tưởng, đứng về mặt chữ nghĩa, nhất là chữ Hán, những điều ta chưa hiểu kỹ, chưa nắm bắt thấu đáo được nội dung của chúng, tốt nhất là không nên dùng. Cũng như uống thuốc, mà bệnh nhân không biết tính dược, không rõ công dụng, có khi mua hại vào mình, thậm chí tử vong.Huống chi chữ Hán rất nhiều nghĩa, cách diễn tả rất hóc hiểm. Nhiều nhà nho khi bị ép buộc làm Bồi bút đã phản thùng rất thâm thuý. Người treo chữ phải đến ba, bốn năm sau, nhờ “quân sư quạt mo” mới vỡ lẽ là mình đã bị “xỏ xiên” thậm tệ.
Thế kỳ xương: Nghĩa tốt là đời nào cũng hưng thịnh. Nhưng đọc ngược lại thì thành “Sướng kỳ thê” nhờ vợ mà vinh thân phì gia.
Tạc không: Nghĩa tốt là công lao to lớn đáng ghi vào thế kỷ. Nhưng nghĩa xấu lại là đục khoét không thiếu một thức gì.
Cao lộng đường: Nghĩa tốt là nhà cao gió lộng, khen nhà mới xây dựng đồ sộ nguy nga. Nhưng nghĩa sâu lại là nhà cạo lông lợn.
Thiên lý lương nhân: Nghĩa tốt là nghìn dặm danh thơm người hiền đức. Nhưng triết tự ra thì “Thiên lý” là chữ “Trọng”, có nghĩa coi nặng, ưa chuộng, yêu thích. Còn lương nhân là các bộ phận của chữ “Thực”, có nghĩa ăn, nuốt, tọng. Cả câu 4 chữ rút lại thành 2 chữ “Trọng thực” với nghĩa đồ tham ăn.Khả vi thiện đức: Nghĩa tốt là khá làm điều lành, điều phúc đức. Nhưng xét lại thì hoá thành có thể làm quan hoạn. Vì “Thiện đức”, đọc trẹo đi là “đực thiến”.
Phúc tối hậu: Nghĩa tốt là chữ “Phúc” thật đầy đặn. Nghĩa xấu là chữ phúc thì lùn lùn.Thọ tối trường: Nghĩa tốt là chữ “Thọ” thật dài lâu. Nghĩa xấu là chữ thọ thật dài dài.
Rút kinh nghiệm trên, ta thấy: Người cho chữ không được ngẫu hứng, mà phải suy xét kỹ chữ nghĩa mình định cho. Nếu tuỳ tiện, có thể bị sai phạm ngoài chủ định của mình. Viết cho cơ quan thông tin đại chúng mà lại ghi “Mã đáo thành công” có khác gì bảo họ vừa đi đánh nhau về. Còn người xin chữ, trước hết phải hiểu nghĩa chữ, kẻo trước học lễ, sau học ăn như khi đến các đám tang, đám giỗ. Treo chữ, chơi chữ, là việc làm có văn hoá, song ngược lại cũng là việc làm vô văn hoá, tự mỉa mai trình độ thấp kém, tư cách đê tiện, lối sống trưởng giả học làm sang, kiểu trọc phú của mình.
Xin chữ phải nhìn người, đúng là bậc túc nho hiền đức thì xin nhận làm thầy, khiêm tốn cầu ban chữ thánh hiền. Người cho chữ phải cảm ơn bạn tri kỷ, hiểu mình, ngưỡng mộ mình, cần thành tâm, thiện ý mà trổ tài bút pháp. Hai bên cho và nhận thật sự thân yêu nhau.

Hiệp Nhân

TRANH TẾT & TRANH TRÂU

Đức Quang


Xưa kia vào những ngày tết Nguyên Đán trong không gian ngôi nhà Việt, người ta trang hoàng đủ loại cảnh sắc cho thêm xuân như cây nêu, cành đào, mâm ngũ quả, bánh chưng xanh, câu đối đỏ và những bức tranh tết.
Theo quan niệm dân gian, chơi tranh tết đã trở thành phong tục mang nét đẹp văn hoá truyền thống, giàu tính thẩm mỹ nhân văn của dân tộc ta. Thường sau tết ông Táo, dù nhà giàu hay nghèo người ta đi chợ lựa mua những bức tranh tết với hy vọng đón vinh hoa, phú quý về nhà, gỡ tranh cũ xuống treo tranh mới lên với hàm ý “Tống cựu, nghinh tân”.
Đề tài tranh tết phong phú, đa dạng phản ánh nhiều chủ đề cuộc sống và những nét đẹp trong sinh hoạt thường nhật của người dân lao động được người lớn và trẻ em ưa dùng như: Tranh thờ (Bà chúa thượng ngàn, Táo Quân, Vũ Đinh-Thiên ất, ngũ Hổ, Cuốn thư, Mâm ngũ quả,...).Tranh chúc tụng (ông Tiến Tài-ông Tiến Lộc, Vinh hoa, phú quý, Nhân Nghĩa, Trí Tín, Gà Đại cát, Lợn đàn, Gà đàn, Xuân hạ thu đông, Tố nữ, Cá chép-Chim công, Canh nông chi đồ,...). Tranh lịch sử (Bà Trưng, Bà Triệu, Ngô Quyền, Đinh Bộ Lĩnh, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Nguyễn Trãi,...).Tranh xã hội (Đánh đu, Đấu vật, Bịt mắt bắt dê, Hứng dừa, đánh ghen, Đám cưới chuột, Thầy đồ cóc, Chăn trâu thổi sáo, Nhà nông,....).Tranh truyện (Thạch Sanh, Kiều, Chinh đông chinh tây, Nhị độ mai,...).
Bên cạnh những bức tranh tết mang đậm sắc thái văn hoá, lịch sử, tâm linh, mọi người còn dành vị trí trang trọng trong không gian ngôi nhà để đón chào năm mới bằng những bức vẽ hình con giáp đại diện cho năm. Nếu như năm Sửu (trâu) người ta sẽ chọn bức tranh đôi “Chăn trâu thả diều”, “Chăn trâu thổi” sáo hoặc bức tranh đơn “Nhà nông” của dòng tranh dân gian Đông Hồ (Bắc Ninh). Đây là những tranh có nội dung và hình thức đẹp thuần tuý, mộc mạc, phản ánh nét sinh hoạt lao động của người nông dân trong khung cảnh thanh bình, yên ả cùng những ước mơ bình dị nhưng bay cao.
Đến với bức thứ nhất “Chăn trâu thổi sáo” là hình vẽ ngộ nghĩnh chú bé mục đồng và trâu được người hoạ sỹ dân gian năm xưa bố cục cân xứng, nhịp điệu. Gần như choán ngợp không gian tranh là hình ảnh con trâu mộng hiền từ, hai sừng cong vênh hướng vào nhau, đầu nghểnh lên với đôi tai như đang lắng nghe tiếng sáo véo von từ phía chú bé ngồi xếp bằng trên lưng trâu với khuôn mặt vô tư, hồn nhiên, tóc để chỏm trái đào, mình cởi trần, đóng khố đang say sưa thổi sáo thả những nốt nhạc đồng quê vào vũ trụ trong xanh bao la. ở phía trên đầu chú bé là chiếc lá sen được người hoạ sỹ vẽ cách điệu lớn hơn tỷ lệ thực, nhưng quan sát chung các mảng khối trong tranh thật hài hoà, nhịp điệu ăn ý giữa những đường nét, màu sắc tự nhiên (ñoû, xanh, vàng, trắng, đen) làm điểm nhấn ấn tượng, lôi cuốn người xem. Được kết hợp với dòng chữ Hà diệp cái thanh thanh như gợi mở hình tượng ước mơ của người nông dân về một tương lai thật tươi sáng mà đại diện cho ước mơ đó là hình ảnh chú bé chăn trâu đang thả tâm hồn bay cao trong tiếng sáo cùng hoà quyện vào chiếc lá sen che đầu như bao chùm cả không gian vũ trụ thể hiện niềm khát vọng chinh phục thiên nhiên của con người thời xưa.
ở bức thứ hai “Chăn trâu thả diều” gợi cho người xem liên tưởng đến bức “Chăn trâu thổi sáo” nhưng quan sát chung cho thấy cách thức bố cục, nhân vật có điểm giống nhau nhưng nôị dung là một chủ đề rất riêng. Bằng hình vẽ chú bé mục đồng cởi trần, đóng khố nằm ngửa bụng trên lưng trâu, hai chân vắt ngang sang một bên với tư thế thật thoải mái. Tay phải chú bé cầm dây diều, tay trái đặt hờ trên lưng trâu, mắt hướng về chiếc diều đang lộng gió, nghe thoảng như có tiếng sáo du dương bên tai, nhưng quan sát kỹ người xem mới nhận ra chiếc diều chú bé đang thả chơi chính là chiếc nón hàng ngày em vẫn đội đầu che nắng mưa khi ra ruộng đồng nay lại bay bổng lên cao cùng làn giữ nguyên thu như thể hiện sự vươn lên của trí tuệ và ý chí của con người. Càng đi sâu vào quan sát ta thật ngỡ ngàng hơn với hình ảnh con trâu hiền lành nhưng thật ngộ nghĩnh, hóm hỉnh với chiếc đầu nghiêng nghiêng, bốn chân như đang nhảy múa theo làn gió thu cho diều bay cao hơn và dường như trâu cũng đang tham gia trò chơi thả diều cùng chú bé. Để làm cho bức tranh cân xứng, người hoạ sỹ đã nhấn nhá mấy vệt bút tạo những đám cỏ xanh mượt thật tinh tế để diễn tả cái động của không gian, nhân vật như sự gắn kết tình yêu giữa con người và thiên nhiên, như cùng hoà đồng trong một vũ trụ luận mà con người luôn giữ vai trò là tâm điểm giao hoà. Phía trên bức tranh có đề chữ “Vũ thu phong nhất tượng” hiểu nghĩa là một trận gió thu đang múa làm nổi bật hơn cho chủ đề bức tranh đó là cái tình của người nghệ sỹ đã biết phối hợp chặt chẽ giữa mỹ thuật và thư pháp làm cho tác phẩm nghệ thuật dân gian hoàn chỉnh, biểu đạt giàu cảm xúc, thẩm mỹ cuộc sống.
Từ hai bức “Chăn trâu thả diều”, “Chăn trâu thổi” sáo chúng ta đến với bức vẽ hoạt cảnh “Nhà nông” để cảm nhận cái đẹp từ đôi bàn tay tài hoa của người hoạ sỹ năm xưa khi lấy cảm hứng sáng tác từ hình tượng sinh hoạt, lao động của người nông dân qua hoạt cảnh nhà nông nghỉ giải lao sau giờ bừa ải, khuôn mặt còn mệt mỏi, ngồi tựa lưng vào chiếc bừa, áo mở phanh ngực, chân ngồi vắt chữ ngũ thật thoải mái, tay phải cầm chiếc quạt lá phe phẩy. Hình ảnh gợi cho người xem liên tưởng tới các nhà hiền triết phương đông sống ẩn dật lấy điền viên làm thú vui vầy. ở trước mặt người nông dân, chú trâu đã được tháo vàm, chắc sau giờ lao động nó cũng mệt mỏi và đói qua chiếc bụng hóp được người vẽ thể hiện mấy nét gạch cong, nhưng trâu vẫn chưa đi, đầu ngoảnh lại như chia sẻ nỗi mệt nhọc với người chủ và hình như nó cũng đồng cảm với người và hy vọng một mùa màng bội thu đang hứa hẹn. Trên lưng trâu hai chú chim sáo sậu đang đậu, đầu chúng hướng vào nhau như trò chuyện, tình tự. Ngắm bức tranh người xem cảm nhận cái khung cảnh yên bình nơi thôn dã và cảm thông với nỗi vất vả một nắng hai sương để làm nên hạt lúa vàng. Nhưng cái sâu sắc hơn ở bức tranh mà người xưa muốn gửi thông điệp tới hôm nay là tình yêu thiên nhiên, yêu lao động và cuộc sống.
Nếu như hình trong tranh tết - tranh trâu là cái diễn tả đường nét, sự biểu đạt tâm lý, trạng thái của nhân vật thì ngôn ngữ và sắc màu trong tranh tết là cái làm nổi bật hơn cho chủ đề nội dung của tác giả, nhân qua đó giúp người xem hình dung, cảm nhận và sử dụng theo từng mục đích khác nhau.
Trong ngày xuân tâm trạng mọi người thanh thản ngồi bên sắc thắm cành đào, uống chén rượu nồng và ngắm những bức tranh tết - tranh trâu con người thêm sảng khoái, giàu sức sống mà tranh tết chính là thông điệp chuyển lời cầu chúc tốt lành cho mình và cho mọi người. Còn những ai có năm tháng ở đồng quê hẳn như được chở về với chính mình qua bức tranh trâu với những ước mơ bay cao trong tiếng sáo diều, nay lại gặp lại hình ảnh đó, lòng ta cảm thấy vui khi nghiệm thấy một phần ước mơ xưa nay đã trở thành hiện thực để ngày xuân thêm câu chuyện nồng “ôn cố tri tân”.

Thứ Tư, 5 tháng 8, 2009


Thiên sứ

Cuối cùng, Thiên sứ cũng quyết định gieo mình xuống trần, trút bỏ mọi thứ trên thân thể, kể cả đôi cánh và sức mạnh, nàng trần trụi và khô khốc lướt nhanh qua những ngân hà... Bóng tối của vũ trụ không thể nào che khuất tâm hồn trong sáng, thánh thiện toát ra từ da thịt nàng - sức sống tinh khôi và trinh nguyên ẩn chứa trong không gian và thời gian...

Nàng rụt rè, ngỡ ngàng bước đến, chạm vào ranh giới của sự ngượng ngùng, e ấp muôn thuở… Không phải là sự lựa chọn, không phải là sự gượng ép, mà là chính nàng muốn thế. Nhưng để hiểu được chân giá trị của sự cao thượng, sự hy sinh thầm lặng thì không dễ chút nào, những suy nghĩ cứ mãi vương vấn, lẩn khuất trên làn tóc bồng bềnh bởi gió và những tia sáng từ những tinh tú xa xăm...

Liệu thế gian có hiểu được những suy nghĩ sâu kín mà nàng đã và đang trăn trở? hay chỉ ngắm nhìn nàng qua cái không gian hai chiều vô vị ấy?



Trăng non
(Hồi bút của Thái Phiên)

Chuyện xưa kể rằng ở một vương quốc nọ có một tên cướp khét tiếng giết người không gớm tay, vào một đêm thu hắn lẻn vào hoàng cung với ý định giết công chúa để cướp nữ trang và viên ngọc quý mà nàng thường mang trên người. Trong ánh sáng mờ ảo chan hòa cùng bóng tối của căn phòng, hắn đã rút gươm ra và nhẹ nhàng tiến đến bên giường của công chúa…, khi thanh gươm đã vung lên và sẵn sàng cắm phập xuống tim của nàng, thì ngay lúc đó áng mây vừa tan nhường chỗ cho ánh trăng tỏa nhẹ xuống hoàng cung̣, qua ánh sáng lung linh huyền ảo của trăng non, hắn thấy trước mắt mình là một thân thể nõn nà kiều diễm của công chúa đang khỏa thân và say sưa trong giấc điệp; dưới làn da trắng hồng của đôi bờ bồng đảo là trái tim đang đập nhẹ theo từng nhịp thở trinh nguyên… Lần đầu tiên trong cuộc đời ngang dọc, tên cướp đã sững sờ đứng lặng yên trước vẻ đẹp thánh thiện của Tạo hóa, hắn đã run tay không thể đâm gươm xuống ngực nàng, hắn đành phải âm thầm rút lui vào bóng đêm…
Cái Đẹp mong manh, nhỏ nhoi còn sót lại trong phần NGƯỜI của tên cướp đã cảm hoá được và chiến thắng cái Ác cố hữu trong phần CON của hắn. Đó là triết lý muôn đời của nghệ thuật, của lẽ sống, qua câu chuyện mang đậm tính huyền thoại trên...




HÌNH TƯỢNG PHỤ NỮ TRONG ĐIÊU KHẮC
ĐÌNH LÀNG VĨNH PHÚC

Nhắc tới nghệ thuật điêu khắc đình làng ở Vĩnh Phúc, người ta nghĩ về đình Thổ Tang, Hương Canh, Ngọc Canh, Tiên Canh,…bởi những ngôi đình này không những mang nét đẹp kiến trúc độc đáo từ thời Lê (tk XVII-XVIII) mà còn chứa đựng cả kho tàng nghệ thuật điêu khắc đặc sắc với mảng đề tài mô phỏng sinh động về con người, hoa thảo và muông thú. Nhưng điều đặc biệt hơn trong mảng chạm khắc mà người thợ xưa đã táo bạo vượt qua cả quy phạm lễ giáo phong kiến để đưa hình ảnh người phụ nữ vào trang trọng trong ngôi đình làng là một điều hiếm thấy, bởi ngôi đình làng xưa kia vốn được coi là một dạng thức tiểu triều đình, nơi đại diện cho chính quyền phong kiến địa phương họp bàn việc làng, việc nước thì điều cấm người phụ nữ bén mảng tới cửa đình là lẽ đương nhiên. Vậy lại có một tồn tại nằm song song với hệ thức giáo cấm đoán khắt khe, đó là sự hiện diện hình ảnh người phụ nữ khá phổ biến trên các thành phần kiến trúc đình làng như một điều tất yếu của cuộc sống.
Nằm chung trong mảng đề tài sinh hoạt, lao động của con người. Hình tượng người phụ nữ luôn được nhà điêu khắc xưa chú trọng làm nổi bật hơn ở mỗi chủ đề phản ánh, điều đó cho thấy vai trò người phụ nữ không thể thiếu ngay cả trong đời sống gia đình và xã hội phong kiến xưa; vì ở góc độ nào đó người phụ nữ mang giá trị cân bằng cuộc sống, từ niềm vui, nỗi buồn cùng vai trò sinh tồn trong tín ngưỡng phồn thực. Tuy rằng vào giai đoạn lễ giáo phong kiến chế định, người phụ nữ luôn bị nép vế trước nam giới ngay cả ở trong gia đình, lại càng bị bó hẹp hơn bởi “Tam tòng, tứ đức” để rồi sự cam chịu thân phận đó lại tạo nên nguồn cảm hứng cho nhà điêu khắc tài hoa năm xưa thổi hồn thăng hoa trong nghệ thuật điêu khắc đình làng, tôn lên vẻ đẹp người phụ nữ Việt thuần hậu, nết na nhưng ẩn chứa giá trị phồn thực, một biểu tượng của niềm khát vọng sinh tồn trong cộng đồng cư dân lúa nước suốt quá trình hình thành và phát triển. Chính do vậy những hình ảnh cô gái, nàng tiên khoả thân trong những bức chạm trang trí đình làng lại mang màu sắc tín ngưỡng phồn thực của người Việt cổ hơn là sự phá cách trong lễ giáo phong kiến. Điều này thể hiện sự dung hoà ở cả hai giá trị tín ngưỡng và Nho giáo để chung nhất trong một quan niệm đông con-nhiều cháu, gia đình-dòng tộc, làng-xã,…mà đại diện cho biểu tượng sinh tồn đó không gì khác ngoài hình tượng người phụ nữ; nên ở góc độ nào đó trong xã hội vẫn có thể chấp nhận hình ảnh người phụ nữ trong đình làng, cho dù hình ảnh đó trái với cả “thuần phong mỹ tục”.
Ở bức chạm “Tiên cưỡi rồng” đình Tiên Canh (Bình Xuyên) là đại diện cho hình ảnh đẹp và cao quý của người phụ nữ - tiên cưỡi trên lưng rồng, đầu đội mũ kiểu tì lư nhà Phật, khuôn mặt trái xoan, thân hình đầy đặn, mình cởi trần mặc váy, cổ tay đeo vòng; hai cánh tay tròn lẳn giơ lên ngang vai như đang múa. Sự kết hợp khéo léo giữa hình tượng rồng (dương) với tiên nữ (âm) thể hiện khát vọng yêu đương, muôn loài sinh sôi nảy nở theo quan niệm của cư dân lúa nước; nhưng ở một ý nghĩa khác hình tượng rồng mang biểu tượng linh thiêng, quyền lực của vua chúa mà người thợ lại khéo léo đặt cô gái-nàng tiên khoả thân ngồi lên mình rồng là điều chế giễu của người nông dân đối với giai cấp thống trị (hình 1). Cùng chung với mảng đề tài này còn gặp bức chạm “múa rồng” đình Hương Canh (Bình Xuyên) được người thợ xưa chú ý phác hoạ nổi bật ở vị trí trung tâm là cô gái độ tuổi đôi tám, mặc trang phục mỏng manh đang say sưa trong vũ điệu đầy sức gợi cảm, uyển chuyển bên cạnh hình tượng rồng; điều này đủ để nói lên ước vọng phồn thực và triết lý âm dương hoà hợp của cư dân nông nghiệp xưa trên đất Vĩnh Phúc.
Trong một bức khác chạm khác ở đình Thổ Tang (Vĩnh Tường) lại miêu tả cảnh đôi nam nữ tình tự, cô gái liếc ánh mắt tình tứ về phía chàng trai, chàng trai không bỏ lỡ cơ hội yêu đương bằng cử chỉ quàng vai đặt tay lên ngực cô gái thật tự nhiên. Có lẽ khung cảnh hẳn đang diễn ra dưới đêm trăng hay ánh sáng từ những ngọn đèn, nến trong lễ hội làng. Nhưng sự táo bạo hơn cả hoạt cảnh tình tứ của đôi trai gái trên lại nằm ở bức chạm “Hội làng” đình Ngọc Canh (Bình Xuyên) diễn tả khung cảnh ngày hội tưng bừng náo nhiệt, nép vào góc xa của lễ hội là đôi trai gái đang làm tình trong tư thế cao trào của khoái lạc (hình 2). Hình như các bức cham cảnh hoan lạc, tình tứ được người thợ chạm khắc xưa ghi lại bằng hình ảnh chân thực từ lễ hội làng Dưng (Vĩnh Tường) hay đêm hội rước “Nõ nường” ở Phú Thọ,…Dẫu ở khía cạnh nào chăng nữa việc diễn tả hoạt cảnh tính giao vào nơi chốn thâm nghiêm đã làm thay đổi ý nghĩ về nơi thờ thành hoàng hay sự vượt lên trên lễ giáo “nam nữ thụ thụ bất thân”. Nhưng phải chăng đó là cái nhìn đầy sự cởi mở của nhóm thợ làm đình hay hướng nhìn chung của cả cộng đồng làng về niềm tin phồn thực; chính ở niềm khát vọng đó mà hình ảnh người phụ nữ lại tự nhiên hơn trong “Ngày hội xuống đồng” đình Thổ Tang. Cô gái mặc áo thứ thân, đeo trống, hai tay bắt nhịp theo vũ điệu; còn chàng trai uốn mình theo điệu múa của cô gái như thể vừa đánh trống, vừa hát. Hình tượng cặp múa đôi này gợi cho người xem liên tưởng đến hát trống quân làng Đức Bác (Lập Thạch) hay sự biến thiên của vũ điệu tính giao trên trống đồng Ngọc Lũ gợi nét đẹp thuần khiết, ít dung tục.
Nếu như trong các bức chạm “Lễ hội xuống đồng”, “Đi săn về”, “Đến hát nhà quan”, “Hội làng”,…người phụ nữ luôn được ưu ái xuất hiện với vai trò là thành viên trong xã hội; dù có lúc người thợ lãng mạn đã cho cô gái khoả thân, tình tứ trên các bức chạm đình làng gây nóng bỏng cho người xem nhưng cũng làm mát dịu niềm khát vọng phồn thực của cộng đồng,...thì ở trong gia đình người phụ nữ cũng được các nhóm thợ đề cao qua bức chạm “Gia đình hạnh phúc” trên thân bẩy hiên đình Thổ Tang (Vĩnh Tường). Trung tâm bức chạm là người phụ nữ với khuôn mặt đầy niềm vui đang dạy con múa, người chồng ngồi khoanh chân trên phản ngắm nhìn; có lẽ qua hoạt cảnh cho thấy người chồng rất đắc ý với cách dạy con của vợ. Sự sắp đặt nội dung đã gợi cho người xem vai trò “công, dung, ngôn, hạnh” của phụ nữ không những trong gia đình và còn cả xã hội, dù cho giai đoạn này thân phận người phụ nữ bị coi rẻ thì ở bức chạm người vợ lại đóng vai trò chính, còn người chồng hẳn là thứ yếu. Không những giữ vai trò nuôi dạy con cái trong gia đình, ở bức chạm với chủ đề “Uống rượu” đình Thổ Tang (Vĩnh Tường) quyền bình đẳng nam nữ lại được thể hiện qua cảnh bốn người ngồi trên chiếu “chè tam, rượu tứ”, hai người nam và hai người nữ; theo phỏng đoán đây là đôi cặp vợ chồng rất bình đẳng trong giao tiếp, sinh hoạt khuôn mặt họ thật vui như cười nói, tay mỗi người nâng chén chúc tụng cuộc sống no đủ, an lành. Qua bức chạm người xem đọc thấy thông điệp về quyền bình đẳng cho phụ nữ, hay lời phê phán quan niệm “trọng nam khinh nữ” của xã hội phong kiến xưa. Dù ở ý nghĩa nào chăng nữa, trong những bức chạm khắc đình làng chúng ta vẫn gặp quan điểm đầy sự tiến bộ về người phụ nữ.
Song song với mạch đề tài về hình tượng người phụ nữ còn nhiều, hầu như nhân vật phụ nữ chiếm khoảng 1/4 các nhân vật được khắc hoạ, mô phỏng qua nội dung (con người-hoa thảo-muông thú ) trong điêu khắc đình làng Vĩnh Phúc (từ tk XVII-XVIII) như một sự ngẫu nhiên. Điều đó khẳng định ngay từ giai đoạn Nho giáo còn hà khắc “Nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô” thì hình tượng người phụ nữ lại được tôn vinh ở những nơi trang trạng nhất trên đình làng như kết quả của sự dung hợp Nho giáo (yếu tố ngoại lại) với tín ngưỡng phồn thực (bản địa) để tạo nên giá trị nhân văn mang yếu tố mới, với cái nhìn đầy thiện chí về người phụ nữ trong xã hội.
NHỮNG NGÀY THÁNG TÁM LỊCH SỬ
TRÊN QUÊ HƯƠNG VĨNH PHÚC

Thực hiện chỉ thị của Đảng “Nhật-Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”, nhiều địa phương trên toàn quốc trong đó có Vĩnh Phúc đã tiến hành thành lập các uỷ ban dân tộc giải phóng ở các làng xã để chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền. Đêm 16-7-1945, tại trị trấn Tam Đảo, trung đội giải phóng quân Phạm Hồng Thái do đồng chí Thạch Sơn chỉ huy đã nổ những phát súng đầu tiên tiêu diệt đồn binh Nhật gồm 11 tên và thu nhiều chiến lợi phẩm như súng đạn, ống nhòm, điện thoại,...giải thoát hàng 100 tù binh Pháp và người Việt. Trận đánh khởi đầu cho tiến trình khởi nghĩa từng phần ở Vĩnh Phúc.
-Ngày 17/8/1945, được tin Nhật đầu hàng, Uỷ ban dân tộc giải phóng huyện Lập Thạch đã huy động hơn 200 tự vệ đến chiếm huyện lỵ. Tri huyện Bùi Tất Cường bỏ trốn, bọn nha lại và binh lính giao nộp ấn tín, giấy tờ và 18 khẩu súng cho cách mạng.
-Ngày 19/8/1945, cùng với nhân dân Hà Nội, lực lượng tự vệ và nhân dân Phúc Yên đã tiến hành khởi nghĩa thắng lợi, giành chính quyền về tay nhân dân.
-Ngày 21/8/1945, quần chúng cứu quốc cùng lực lượng tự vệ, du kích và nhân dân tiến vào huyện lỵ Vĩnh Tường. Lúc đầu đoàn người khởi nghĩa gặp phải sự kháng cự của lính bảo an và Quốc dân đảng, nhưng trước sức ép của lực lượng cách mạng, chúng phải chịu tước vũ khí vô điều kiện. Tri phủ Vĩnh Tường Phạm Gia Thịnh đầu hàng giao nộp ấn tín, tài sản và 57 khẩu súng cho cách mạng; sau khi giải tán xong chính quyền tay sai phong kiến. Quần chúng nhân dân mít tinh chào mừng chiến thắng và ra mắt Uỷ ban nhân dân cách mạng lâm thời huyện Vĩnh Tường.
-Ngày 22/8/1945, lực lượng cách mạng và nhân dân huyện Yên Lạc khởi nghĩa. Trước khí thế mạnh mẽ, tri huyện Nguyễn Mạnh Nhu bỏ trốn, bọn nha lại và binh lính canh huyện đã giao nộp ấn tín, sổ sách và 7 khẩu súng cho cách mạng. Ngay chiều hôm đó, một cuộc mít tinh chào mừng thắng lợi và ra mắt Uỷ ban nhân dân cách mạng lâm thời huyện diễn ra tại làng Yên Thư.
-Ngày 23/8/1945, một bộ phận dân chủ đảng ở Hương Canh và Đông Đạo đã tiến lên huyện Tam Dương yêu cầu tri huyện Tam Dương Nguyễn Xuân Đĩnh giao nộp ấn tín, vũ khí. Nhưng hắn dựa vào lực lượng Quốc dân đảng đang từ Vĩnh Yên tới giải cứu nên không nộp. Lực lượng dân chủ đảng chỉ tước được vài khẩu súng rồi rút lui. Cuộc khởi nghĩa chiếm huyện Tam Dương không thành, nhưng gây được tiếng vang cổ vũ phong cách mạng trong tỉnh.
-Ngày 24/8/1945, lực lượng tự vệ và nhân dân huyện Bình Xuyên biểu tình chiếm huyện, bắt giam tri huyện Đỗ Trọng Vinh, rồi tuyên bố giải tán chính quyền tay sai, phong kiến và thành lập Uỷ ban nhân dân cách mạng lâm thời huyện Bình Xuyên.
-Ngày 31/8/1945, hàng vạn quần chúng nhân dân và tự vệ, du kích giương cao cờ đỏ sao vàng từ nhiều hướng cơ sở tiến về thị xã Vĩnh Yên biểu tình giành chính quyền nhưng bị bọn Quốc dân đảng và Đại việt đàn áp đẫm máu làm hàng 100 người chết và bị thương. Cuộc khởi nghĩa bị tổn thất nặng và không thành công.
Như vậy, trong thời gian từ ngày 17/8 đến 31/8/1945, hàng chục vạn đồng bào ở Vĩnh Phúc theo lời hiệu triệu của Trung ương Đảng và lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhất tề vùng lên khởi nghĩa giành chính quyền ở các phủ, huyện và thị xã. Tuy lúc này Vĩnh Yên vẫn bị bọn phản động chiếm đóng, nhưng chính quyền từ làng, xã đến huyện đã được thiết lập. Điều đó cho thấy cuộc khởi nghĩa trên quê hương Vĩnh Phúc là một bộ phận cách mạng thánh Tám trong cả nước góp phần xứng đáng làm nên thắng lợi chung của toàn dân tộc. Cuộc cách mạng đã khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, mở đầu cho kỷ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội.

*TLTK: Lịch sử Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc. -tr.106-120. PM.026895.