
HÌNH TƯỢNG PHỤ NỮ TRONG ĐIÊU KHẮC
ĐÌNH LÀNG VĨNH PHÚC
Nhắc tới nghệ thuật điêu khắc đình làng ở Vĩnh Phúc, người ta nghĩ về đình Thổ Tang, Hương Canh, Ngọc Canh, Tiên Canh,…bởi những ngôi đình này không những mang nét đẹp kiến trúc độc đáo từ thời Lê (tk XVII-XVIII) mà còn chứa đựng cả kho tàng nghệ thuật điêu khắc đặc sắc với mảng đề tài mô phỏng sinh động về con người, hoa thảo và muông thú. Nhưng điều đặc biệt hơn trong mảng chạm khắc mà người thợ xưa đã táo bạo vượt qua cả quy phạm lễ giáo phong kiến để đưa hình ảnh người phụ nữ vào trang trọng trong ngôi đình làng là một điều hiếm thấy, bởi ngôi đình làng xưa kia vốn được coi là một dạng thức tiểu triều đình, nơi đại diện cho chính quyền phong kiến địa phương họp bàn việc làng, việc nước thì điều cấm người phụ nữ bén mảng tới cửa đình là lẽ đương nhiên. Vậy lại có một tồn tại nằm song song với hệ thức giáo cấm đoán khắt khe, đó là sự hiện diện hình ảnh người phụ nữ khá phổ biến trên các thành phần kiến trúc đình làng như một điều tất yếu của cuộc sống.
Nằm chung trong mảng đề tài sinh hoạt, lao động của con người. Hình tượng người phụ nữ luôn được nhà điêu khắc xưa chú trọng làm nổi bật hơn ở mỗi chủ đề phản ánh, điều đó cho thấy vai trò người phụ nữ không thể thiếu ngay cả trong đời sống gia đình và xã hội phong kiến xưa; vì ở góc độ nào đó người phụ nữ mang giá trị cân bằng cuộc sống, từ niềm vui, nỗi buồn cùng vai trò sinh tồn trong tín ngưỡng phồn thực. Tuy rằng vào giai đoạn lễ giáo phong kiến chế định, người phụ nữ luôn bị nép vế trước nam giới ngay cả ở trong gia đình, lại càng bị bó hẹp hơn bởi “Tam tòng, tứ đức” để rồi sự cam chịu thân phận đó lại tạo nên nguồn cảm hứng cho nhà điêu khắc tài hoa năm xưa thổi hồn thăng hoa trong nghệ thuật điêu khắc đình làng, tôn lên vẻ đẹp người phụ nữ Việt thuần hậu, nết na nhưng ẩn chứa giá trị phồn thực, một biểu tượng của niềm khát vọng sinh tồn trong cộng đồng cư dân lúa nước suốt quá trình hình thành và phát triển. Chính do vậy những hình ảnh cô gái, nàng tiên khoả thân trong những bức chạm trang trí đình làng lại mang màu sắc tín ngưỡng phồn thực của người Việt cổ hơn là sự phá cách trong lễ giáo phong kiến. Điều này thể hiện sự dung hoà ở cả hai giá trị tín ngưỡng và Nho giáo để chung nhất trong một quan niệm đông con-nhiều cháu, gia đình-dòng tộc, làng-xã,…mà đại diện cho biểu tượng sinh tồn đó không gì khác ngoài hình tượng người phụ nữ; nên ở góc độ nào đó trong xã hội vẫn có thể chấp nhận hình ảnh người phụ nữ trong đình làng, cho dù hình ảnh đó trái với cả “thuần phong mỹ tục”.
Ở bức chạm “Tiên cưỡi rồng” đình Tiên Canh (Bình Xuyên) là đại diện cho hình ảnh đẹp và cao quý của người phụ nữ - tiên cưỡi trên lưng rồng, đầu đội mũ kiểu tì lư nhà Phật, khuôn mặt trái xoan, thân hình đầy đặn, mình cởi trần mặc váy, cổ tay đeo vòng; hai cánh tay tròn lẳn giơ lên ngang vai như đang múa. Sự kết hợp khéo léo giữa hình tượng rồng (dương) với tiên nữ (âm) thể hiện khát vọng yêu đương, muôn loài sinh sôi nảy nở theo quan niệm của cư dân lúa nước; nhưng ở một ý nghĩa khác hình tượng rồng mang biểu tượng linh thiêng, quyền lực của vua chúa mà người thợ lại khéo léo đặt cô gái-nàng tiên khoả thân ngồi lên mình rồng là điều chế giễu của người nông dân đối với giai cấp thống trị (hình 1). Cùng chung với mảng đề tài này còn gặp bức chạm “múa rồng” đình Hương Canh (Bình Xuyên) được người thợ xưa chú ý phác hoạ nổi bật ở vị trí trung tâm là cô gái độ tuổi đôi tám, mặc trang phục mỏng manh đang say sưa trong vũ điệu đầy sức gợi cảm, uyển chuyển bên cạnh hình tượng rồng; điều này đủ để nói lên ước vọng phồn thực và triết lý âm dương hoà hợp của cư dân nông nghiệp xưa trên đất Vĩnh Phúc.
Trong một bức khác chạm khác ở đình Thổ Tang (Vĩnh Tường) lại miêu tả cảnh đôi nam nữ tình tự, cô gái liếc ánh mắt tình tứ về phía chàng trai, chàng trai không bỏ lỡ cơ hội yêu đương bằng cử chỉ quàng vai đặt tay lên ngực cô gái thật tự nhiên. Có lẽ khung cảnh hẳn đang diễn ra dưới đêm trăng hay ánh sáng từ những ngọn đèn, nến trong lễ hội làng. Nhưng sự táo bạo hơn cả hoạt cảnh tình tứ của đôi trai gái trên lại nằm ở bức chạm “Hội làng” đình Ngọc Canh (Bình Xuyên) diễn tả khung cảnh ngày hội tưng bừng náo nhiệt, nép vào góc xa của lễ hội là đôi trai gái đang làm tình trong tư thế cao trào của khoái lạc (hình 2). Hình như các bức cham cảnh hoan lạc, tình tứ được người thợ chạm khắc xưa ghi lại bằng hình ảnh chân thực từ lễ hội làng Dưng (Vĩnh Tường) hay đêm hội rước “Nõ nường” ở Phú Thọ,…Dẫu ở khía cạnh nào chăng nữa việc diễn tả hoạt cảnh tính giao vào nơi chốn thâm nghiêm đã làm thay đổi ý nghĩ về nơi thờ thành hoàng hay sự vượt lên trên lễ giáo “nam nữ thụ thụ bất thân”. Nhưng phải chăng đó là cái nhìn đầy sự cởi mở của nhóm thợ làm đình hay hướng nhìn chung của cả cộng đồng làng về niềm tin phồn thực; chính ở niềm khát vọng đó mà hình ảnh người phụ nữ lại tự nhiên hơn trong “Ngày hội xuống đồng” đình Thổ Tang. Cô gái mặc áo thứ thân, đeo trống, hai tay bắt nhịp theo vũ điệu; còn chàng trai uốn mình theo điệu múa của cô gái như thể vừa đánh trống, vừa hát. Hình tượng cặp múa đôi này gợi cho người xem liên tưởng đến hát trống quân làng Đức Bác (Lập Thạch) hay sự biến thiên của vũ điệu tính giao trên trống đồng Ngọc Lũ gợi nét đẹp thuần khiết, ít dung tục.
Nếu như trong các bức chạm “Lễ hội xuống đồng”, “Đi săn về”, “Đến hát nhà quan”, “Hội làng”,…người phụ nữ luôn được ưu ái xuất hiện với vai trò là thành viên trong xã hội; dù có lúc người thợ lãng mạn đã cho cô gái khoả thân, tình tứ trên các bức chạm đình làng gây nóng bỏng cho người xem nhưng cũng làm mát dịu niềm khát vọng phồn thực của cộng đồng,...thì ở trong gia đình người phụ nữ cũng được các nhóm thợ đề cao qua bức chạm “Gia đình hạnh phúc” trên thân bẩy hiên đình Thổ Tang (Vĩnh Tường). Trung tâm bức chạm là người phụ nữ với khuôn mặt đầy niềm vui đang dạy con múa, người chồng ngồi khoanh chân trên phản ngắm nhìn; có lẽ qua hoạt cảnh cho thấy người chồng rất đắc ý với cách dạy con của vợ. Sự sắp đặt nội dung đã gợi cho người xem vai trò “công, dung, ngôn, hạnh” của phụ nữ không những trong gia đình và còn cả xã hội, dù cho giai đoạn này thân phận người phụ nữ bị coi rẻ thì ở bức chạm người vợ lại đóng vai trò chính, còn người chồng hẳn là thứ yếu. Không những giữ vai trò nuôi dạy con cái trong gia đình, ở bức chạm với chủ đề “Uống rượu” đình Thổ Tang (Vĩnh Tường) quyền bình đẳng nam nữ lại được thể hiện qua cảnh bốn người ngồi trên chiếu “chè tam, rượu tứ”, hai người nam và hai người nữ; theo phỏng đoán đây là đôi cặp vợ chồng rất bình đẳng trong giao tiếp, sinh hoạt khuôn mặt họ thật vui như cười nói, tay mỗi người nâng chén chúc tụng cuộc sống no đủ, an lành. Qua bức chạm người xem đọc thấy thông điệp về quyền bình đẳng cho phụ nữ, hay lời phê phán quan niệm “trọng nam khinh nữ” của xã hội phong kiến xưa. Dù ở ý nghĩa nào chăng nữa, trong những bức chạm khắc đình làng chúng ta vẫn gặp quan điểm đầy sự tiến bộ về người phụ nữ.
Song song với mạch đề tài về hình tượng người phụ nữ còn nhiều, hầu như nhân vật phụ nữ chiếm khoảng 1/4 các nhân vật được khắc hoạ, mô phỏng qua nội dung (con người-hoa thảo-muông thú ) trong điêu khắc đình làng Vĩnh Phúc (từ tk XVII-XVIII) như một sự ngẫu nhiên. Điều đó khẳng định ngay từ giai đoạn Nho giáo còn hà khắc “Nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô” thì hình tượng người phụ nữ lại được tôn vinh ở những nơi trang trạng nhất trên đình làng như kết quả của sự dung hợp Nho giáo (yếu tố ngoại lại) với tín ngưỡng phồn thực (bản địa) để tạo nên giá trị nhân văn mang yếu tố mới, với cái nhìn đầy thiện chí về người phụ nữ trong xã hội.
ĐÌNH LÀNG VĨNH PHÚC
Nhắc tới nghệ thuật điêu khắc đình làng ở Vĩnh Phúc, người ta nghĩ về đình Thổ Tang, Hương Canh, Ngọc Canh, Tiên Canh,…bởi những ngôi đình này không những mang nét đẹp kiến trúc độc đáo từ thời Lê (tk XVII-XVIII) mà còn chứa đựng cả kho tàng nghệ thuật điêu khắc đặc sắc với mảng đề tài mô phỏng sinh động về con người, hoa thảo và muông thú. Nhưng điều đặc biệt hơn trong mảng chạm khắc mà người thợ xưa đã táo bạo vượt qua cả quy phạm lễ giáo phong kiến để đưa hình ảnh người phụ nữ vào trang trọng trong ngôi đình làng là một điều hiếm thấy, bởi ngôi đình làng xưa kia vốn được coi là một dạng thức tiểu triều đình, nơi đại diện cho chính quyền phong kiến địa phương họp bàn việc làng, việc nước thì điều cấm người phụ nữ bén mảng tới cửa đình là lẽ đương nhiên. Vậy lại có một tồn tại nằm song song với hệ thức giáo cấm đoán khắt khe, đó là sự hiện diện hình ảnh người phụ nữ khá phổ biến trên các thành phần kiến trúc đình làng như một điều tất yếu của cuộc sống.
Nằm chung trong mảng đề tài sinh hoạt, lao động của con người. Hình tượng người phụ nữ luôn được nhà điêu khắc xưa chú trọng làm nổi bật hơn ở mỗi chủ đề phản ánh, điều đó cho thấy vai trò người phụ nữ không thể thiếu ngay cả trong đời sống gia đình và xã hội phong kiến xưa; vì ở góc độ nào đó người phụ nữ mang giá trị cân bằng cuộc sống, từ niềm vui, nỗi buồn cùng vai trò sinh tồn trong tín ngưỡng phồn thực. Tuy rằng vào giai đoạn lễ giáo phong kiến chế định, người phụ nữ luôn bị nép vế trước nam giới ngay cả ở trong gia đình, lại càng bị bó hẹp hơn bởi “Tam tòng, tứ đức” để rồi sự cam chịu thân phận đó lại tạo nên nguồn cảm hứng cho nhà điêu khắc tài hoa năm xưa thổi hồn thăng hoa trong nghệ thuật điêu khắc đình làng, tôn lên vẻ đẹp người phụ nữ Việt thuần hậu, nết na nhưng ẩn chứa giá trị phồn thực, một biểu tượng của niềm khát vọng sinh tồn trong cộng đồng cư dân lúa nước suốt quá trình hình thành và phát triển. Chính do vậy những hình ảnh cô gái, nàng tiên khoả thân trong những bức chạm trang trí đình làng lại mang màu sắc tín ngưỡng phồn thực của người Việt cổ hơn là sự phá cách trong lễ giáo phong kiến. Điều này thể hiện sự dung hoà ở cả hai giá trị tín ngưỡng và Nho giáo để chung nhất trong một quan niệm đông con-nhiều cháu, gia đình-dòng tộc, làng-xã,…mà đại diện cho biểu tượng sinh tồn đó không gì khác ngoài hình tượng người phụ nữ; nên ở góc độ nào đó trong xã hội vẫn có thể chấp nhận hình ảnh người phụ nữ trong đình làng, cho dù hình ảnh đó trái với cả “thuần phong mỹ tục”.
Ở bức chạm “Tiên cưỡi rồng” đình Tiên Canh (Bình Xuyên) là đại diện cho hình ảnh đẹp và cao quý của người phụ nữ - tiên cưỡi trên lưng rồng, đầu đội mũ kiểu tì lư nhà Phật, khuôn mặt trái xoan, thân hình đầy đặn, mình cởi trần mặc váy, cổ tay đeo vòng; hai cánh tay tròn lẳn giơ lên ngang vai như đang múa. Sự kết hợp khéo léo giữa hình tượng rồng (dương) với tiên nữ (âm) thể hiện khát vọng yêu đương, muôn loài sinh sôi nảy nở theo quan niệm của cư dân lúa nước; nhưng ở một ý nghĩa khác hình tượng rồng mang biểu tượng linh thiêng, quyền lực của vua chúa mà người thợ lại khéo léo đặt cô gái-nàng tiên khoả thân ngồi lên mình rồng là điều chế giễu của người nông dân đối với giai cấp thống trị (hình 1). Cùng chung với mảng đề tài này còn gặp bức chạm “múa rồng” đình Hương Canh (Bình Xuyên) được người thợ xưa chú ý phác hoạ nổi bật ở vị trí trung tâm là cô gái độ tuổi đôi tám, mặc trang phục mỏng manh đang say sưa trong vũ điệu đầy sức gợi cảm, uyển chuyển bên cạnh hình tượng rồng; điều này đủ để nói lên ước vọng phồn thực và triết lý âm dương hoà hợp của cư dân nông nghiệp xưa trên đất Vĩnh Phúc.
Trong một bức khác chạm khác ở đình Thổ Tang (Vĩnh Tường) lại miêu tả cảnh đôi nam nữ tình tự, cô gái liếc ánh mắt tình tứ về phía chàng trai, chàng trai không bỏ lỡ cơ hội yêu đương bằng cử chỉ quàng vai đặt tay lên ngực cô gái thật tự nhiên. Có lẽ khung cảnh hẳn đang diễn ra dưới đêm trăng hay ánh sáng từ những ngọn đèn, nến trong lễ hội làng. Nhưng sự táo bạo hơn cả hoạt cảnh tình tứ của đôi trai gái trên lại nằm ở bức chạm “Hội làng” đình Ngọc Canh (Bình Xuyên) diễn tả khung cảnh ngày hội tưng bừng náo nhiệt, nép vào góc xa của lễ hội là đôi trai gái đang làm tình trong tư thế cao trào của khoái lạc (hình 2). Hình như các bức cham cảnh hoan lạc, tình tứ được người thợ chạm khắc xưa ghi lại bằng hình ảnh chân thực từ lễ hội làng Dưng (Vĩnh Tường) hay đêm hội rước “Nõ nường” ở Phú Thọ,…Dẫu ở khía cạnh nào chăng nữa việc diễn tả hoạt cảnh tính giao vào nơi chốn thâm nghiêm đã làm thay đổi ý nghĩ về nơi thờ thành hoàng hay sự vượt lên trên lễ giáo “nam nữ thụ thụ bất thân”. Nhưng phải chăng đó là cái nhìn đầy sự cởi mở của nhóm thợ làm đình hay hướng nhìn chung của cả cộng đồng làng về niềm tin phồn thực; chính ở niềm khát vọng đó mà hình ảnh người phụ nữ lại tự nhiên hơn trong “Ngày hội xuống đồng” đình Thổ Tang. Cô gái mặc áo thứ thân, đeo trống, hai tay bắt nhịp theo vũ điệu; còn chàng trai uốn mình theo điệu múa của cô gái như thể vừa đánh trống, vừa hát. Hình tượng cặp múa đôi này gợi cho người xem liên tưởng đến hát trống quân làng Đức Bác (Lập Thạch) hay sự biến thiên của vũ điệu tính giao trên trống đồng Ngọc Lũ gợi nét đẹp thuần khiết, ít dung tục.
Nếu như trong các bức chạm “Lễ hội xuống đồng”, “Đi săn về”, “Đến hát nhà quan”, “Hội làng”,…người phụ nữ luôn được ưu ái xuất hiện với vai trò là thành viên trong xã hội; dù có lúc người thợ lãng mạn đã cho cô gái khoả thân, tình tứ trên các bức chạm đình làng gây nóng bỏng cho người xem nhưng cũng làm mát dịu niềm khát vọng phồn thực của cộng đồng,...thì ở trong gia đình người phụ nữ cũng được các nhóm thợ đề cao qua bức chạm “Gia đình hạnh phúc” trên thân bẩy hiên đình Thổ Tang (Vĩnh Tường). Trung tâm bức chạm là người phụ nữ với khuôn mặt đầy niềm vui đang dạy con múa, người chồng ngồi khoanh chân trên phản ngắm nhìn; có lẽ qua hoạt cảnh cho thấy người chồng rất đắc ý với cách dạy con của vợ. Sự sắp đặt nội dung đã gợi cho người xem vai trò “công, dung, ngôn, hạnh” của phụ nữ không những trong gia đình và còn cả xã hội, dù cho giai đoạn này thân phận người phụ nữ bị coi rẻ thì ở bức chạm người vợ lại đóng vai trò chính, còn người chồng hẳn là thứ yếu. Không những giữ vai trò nuôi dạy con cái trong gia đình, ở bức chạm với chủ đề “Uống rượu” đình Thổ Tang (Vĩnh Tường) quyền bình đẳng nam nữ lại được thể hiện qua cảnh bốn người ngồi trên chiếu “chè tam, rượu tứ”, hai người nam và hai người nữ; theo phỏng đoán đây là đôi cặp vợ chồng rất bình đẳng trong giao tiếp, sinh hoạt khuôn mặt họ thật vui như cười nói, tay mỗi người nâng chén chúc tụng cuộc sống no đủ, an lành. Qua bức chạm người xem đọc thấy thông điệp về quyền bình đẳng cho phụ nữ, hay lời phê phán quan niệm “trọng nam khinh nữ” của xã hội phong kiến xưa. Dù ở ý nghĩa nào chăng nữa, trong những bức chạm khắc đình làng chúng ta vẫn gặp quan điểm đầy sự tiến bộ về người phụ nữ.
Song song với mạch đề tài về hình tượng người phụ nữ còn nhiều, hầu như nhân vật phụ nữ chiếm khoảng 1/4 các nhân vật được khắc hoạ, mô phỏng qua nội dung (con người-hoa thảo-muông thú ) trong điêu khắc đình làng Vĩnh Phúc (từ tk XVII-XVIII) như một sự ngẫu nhiên. Điều đó khẳng định ngay từ giai đoạn Nho giáo còn hà khắc “Nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô” thì hình tượng người phụ nữ lại được tôn vinh ở những nơi trang trạng nhất trên đình làng như kết quả của sự dung hợp Nho giáo (yếu tố ngoại lại) với tín ngưỡng phồn thực (bản địa) để tạo nên giá trị nhân văn mang yếu tố mới, với cái nhìn đầy thiện chí về người phụ nữ trong xã hội.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét